Trong thời kì phong kiến của nước ta, có rất nhiều vị anh hùng đã làm rạng danh dân tộc. Trong đó, em đặc biệt khâm phục Trần Hưng Đạo – vị tướng tài ba thời nhà Trần. Sự việc khiến em ấn tượng sâu sắc nhất là chiến thắng Bạch Đằng năm 1288.
Cuối thế kỉ XIII, quân Nguyên – Mông hùng mạnh kéo sang xâm lược nước ta lần thứ ba. Trước thế giặc đông và mạnh, Trần Hưng Đạo đã bình tĩnh vạch ra kế sách lâu dài. Ông cho quân rút lui chiến lược để bảo toàn lực lượng, đồng thời chuẩn bị một trận địa đặc biệt trên sông Bạch Đằng. Những cọc gỗ lớn, đầu bịt sắt nhọn, được bí mật đóng xuống lòng sông ở những nơi hiểm yếu, chỉ chờ nước triều lên che lấp.
Ngày 8 tháng 4 năm 1288, đoàn thuyền chiến của giặc do Ô Mã Nhi chỉ huy hùng hổ tiến vào cửa sông. Khi nước triều dâng cao, thuyền giặc dễ dàng đi sâu vào trận địa. Đến lúc thủy triều rút xuống, những hàng cọc nhọn dần nhô lên, đâm thủng đáy thuyền. Từ hai bên bờ, quân ta ào ạt tấn công. Khói lửa mù trời, tiếng trống trận vang dội cả khúc sông. Thuyền giặc va vào cọc gỗ vỡ tan, quân xâm lược hoảng loạn, nhiều tên bị tiêu diệt hoặc bắt sống.
Chiến thắng Bạch Đằng đã chấm dứt hoàn toàn cuộc xâm lược của quân Nguyên – Mông, bảo vệ vững chắc nền độc lập dân tộc. Dòng sông Bạch Đằng lịch sử lại một lần nữa ghi dấu chiến công oanh liệt của dân tộc ta.
Khi đọc về sự kiện này, em vô cùng tự hào và khâm phục tài thao lược cùng lòng yêu nước của Trần Hưng Đạo. Ông không chỉ là vị tướng kiệt xuất mà còn là biểu tượng cho ý chí quật cường của dân tộc Việt Nam. Chiến thắng ấy nhắc nhở thế hệ trẻ chúng em phải biết trân trọng hòa bình và nỗ lực học tập để xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh.
Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, em rất ấn tượng với Trần Quốc Toản – một thiếu niên anh hùng thời nhà Trần. Sự việc khiến em nhớ mãi là câu chuyện “bóp nát quả cam” thể hiện lòng yêu nước mãnh liệt của ông.
Năm 1282, trước nguy cơ xâm lược của quân Nguyên – Mông, vua Trần Nhân Tông mở hội nghị Bình Than để bàn kế đánh giặc. Khi ấy, Trần Quốc Toản mới 16 tuổi, tuy rất muốn tham gia bàn việc nước nhưng vì còn nhỏ tuổi nên không được vào dự họp. Bị từ chối, ông đứng ngoài mà trong lòng sôi sục. Tương truyền rằng vì quá căm giận và nóng lòng đánh giặc, ông đã bóp nát quả cam lúc nào không hay.
Không nản chí, Trần Quốc Toản tự tập hợp gia nô, chiêu mộ thêm binh sĩ, sắm sửa vũ khí và thêu lên lá cờ sáu chữ vàng: “Phá cường địch, báo hoàng ân”. Lá cờ đỏ thêu chữ vàng tung bay trên chiến trận đã trở thành biểu tượng cho ý chí quật cường của tuổi trẻ nước Nam. Trong các cuộc kháng chiến chống quân Nguyên, đội quân của ông đã chiến đấu rất dũng cảm, góp phần làm nên những chiến thắng vang dội cho dân tộc.
Sự việc bóp nát quả cam tuy nhỏ nhưng thể hiện tinh thần yêu nước lớn lao. Qua câu chuyện ấy, em càng khâm phục lòng dũng cảm và ý chí quyết tâm của người anh hùng trẻ tuổi. Em hiểu rằng dù ở lứa tuổi nào, mỗi người cũng có thể góp sức mình cho đất nước.
Câu chuyện về Trần Quốc Toản giúp em thêm tự hào về truyền thống chống giặc ngoại xâm của dân tộc Việt Nam và nhắc nhở em phải cố gắng học tập, rèn luyện để xứng đáng với thế hệ cha anh đi trước.
Quê hương Nghệ An của em rất tự hào vì là nơi sinh ra Hồ Chí Minh – vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam. Trong số nhiều câu chuyện về Bác, em ấn tượng nhất là sự việc Bác ra đi tìm đường cứu nước vào năm 1911.
Ngày 5 tháng 6 năm 1911, tại bến cảng Nhà Rồng ở Sài Gòn, người thanh niên Nguyễn Tất Thành khi ấy mới 21 tuổi đã quyết định rời Tổ quốc trên con tàu Đô đốc La-tu-sơ Tơ-rê-vin. Trước cảnh đất nước chìm trong ách đô hộ, nhân dân lầm than, Người mang trong tim một khát vọng cháy bỏng: tìm con đường giải phóng dân tộc. Hình ảnh người thanh niên với đôi mắt sáng, dáng người gầy nhưng ánh lên ý chí kiên cường bước lên boong tàu giữa buổi sáng đầy nắng gió đã trở thành dấu mốc thiêng liêng trong lịch sử dân tộc.
Chuyến đi ấy kéo dài suốt ba mươi năm, qua nhiều châu lục và quốc gia. Người đã làm nhiều công việc vất vả, vừa lao động vừa học tập, tìm hiểu con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc Việt Nam. Cuối cùng, Người đã tìm ra con đường cách mạng vô sản và trở về lãnh đạo nhân dân giành độc lập.
Sự ra đi năm ấy tuy thầm lặng nhưng có ý nghĩa vô cùng to lớn. Nó mở đầu cho hành trình tìm đường cứu nước đầy gian khổ nhưng vĩ đại, dẫn tới thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 và sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Mỗi khi nghĩ về sự kiện ấy, em càng thêm khâm phục ý chí, lòng yêu nước và sự hi sinh cao cả của Bác. Em tự nhủ sẽ cố gắng học tập, rèn luyện thật tốt để xứng đáng với quê hương giàu truyền thống cách mạng.