Bài 1
CÂU 1: phương thức biểu đạt là: nghị luận văn học
CÂU 2: thầy Ha-men và cậu bé Phrăng
CÂU 3: Văn bản bàn luận về ý nghĩa thiêng liêng to lớn của tiếng mẹ đẻ trong việc bảo tồn bản sắc văn hóa và tinh thần dân tộc . Nhan đề của văn bản cho thấy sự tiếc nuối khi không còn được học tiếng nói dân tộc, đồng thời nhấn mạnh rằng tiếng nói dân tộc là biểu tượng của quê hương, cần được trân trọng và giữ gìn.
CÂU 4: Hai bằng chứng được sử dụng trong văn bản là: câu chuyện " Buổi học cuối cùng " của An-phông-xơ Đô-đê và câu nói nổi tiếng của thầy Ha-men
CÂU 5: bài học về ngôn ngữ dận tộc mà tác giả muốn gửi gắm qua " Buổi học cuối cùng " là sự cần thiết phải trân trọng, giữ gìn và học tập tiếng mẹ đẻ một cách tự giác, nghiêm túc
Bài 1
CÂU 1: phương thức biểu đạt là: nghị luận văn học
CÂU 2: thầy Ha-men và cậu bé Phrăng
CÂU 3: Văn bản bàn luận về ý nghĩa thiêng liêng to lớn của tiếng mẹ đẻ trong việc bảo tồn bản sắc văn hóa và tinh thần dân tộc . Nhan đề của văn bản cho thấy sự tiếc nuối khi không còn được học tiếng nói dân tộc, đồng thời nhấn mạnh rằng tiếng nói dân tộc là biểu tượng của quê hương, cần được trân trọng và giữ gìn.
CÂU 4: Hai bằng chứng được sử dụng trong văn bản là: câu chuyện " Buổi học cuối cùng " của An-phông-xơ Đô-đê và câu nói nổi tiếng của thầy Ha-men
CÂU 5: bài học về ngôn ngữ dận tộc mà tác giả muốn gửi gắm qua " Buổi học cuối cùng " là sự cần thiết phải trân trọng, giữ gìn và học tập tiếng mẹ đẻ một cách tự giác, nghiêm túc