Trong lịch sử thời kì phong kiến của dân tộc ta, có rất nhiều vị anh hùng đã làm rạng danh đất nước. Trong số đó, em đặc biệt khâm phục Nguyễn Trãi – người anh hùng văn võ song toàn, có công lớn trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn chống quân Minh xâm lược. Sự việc có thật khiến em xúc động nhất chính là việc ông thay mặt nghĩa quân viết “Bình Ngô đại cáo” để tuyên bố độc lập cho dân tộc.Vào đầu thế kỉ XV, nước ta rơi vào ách đô hộ tàn bạo của nhà Minh. Nhân dân lầm than, đất nước điêu đứng. Trước tình cảnh ấy, Lê Lợi đã dựng cờ khởi nghĩa tại Lam Sơn. Nguyễn Trãi trở thành quân sư đắc lực, góp phần quan trọng vào việc hoạch định chiến lược và kêu gọi lòng dân. Suốt mười năm kháng chiến gian khổ, ông không chỉ lo việc quân cơ mà còn dùng ngòi bút làm vũ khí, viết nhiều thư từ gửi tướng giặc để làm lung lay ý chí xâm lược của chúng.Đến năm 1427, quân Minh đại bại và phải rút về nước. Đầu năm 1428, Lê Lợi lên ngôi hoàng đế, mở ra triều đại mới. Khi đất nước sạch bóng quân thù, Nguyễn Trãi đã thay mặt vua viết “Bình Ngô đại cáo”. Bài cáo không chỉ tổng kết chặng đường đấu tranh gian khổ mà còn khẳng định mạnh mẽ chủ quyền, nền độc lập lâu đời của Đại Việt. Những lời lẽ đanh thép, hào hùng trong bản cáo trạng ấy đã thể hiện niềm tự hào dân tộc và tư tưởng nhân nghĩa sâu sắc.“Bình Ngô đại cáo” được xem như bản tuyên ngôn độc lập thứ hai của nước ta. Qua sự việc này, em càng hiểu rõ hơn vai trò to lớn của Nguyễn Trãi trong lịch sử. Ông không chỉ là một nhà quân sự tài giỏi mà còn là một nhà văn hóa lớn, luôn đặt lợi ích của nhân dân và đất nước lên trên hết.
Trong lịch sử thời kì phong kiến của dân tộc ta, có rất nhiều vị anh hùng đã làm rạng danh đất nước. Trong số đó, em đặc biệt khâm phục Nguyễn Trãi – người anh hùng văn võ song toàn, có công lớn trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn chống quân Minh xâm lược. Sự việc có thật khiến em xúc động nhất chính là việc ông thay mặt nghĩa quân viết “Bình Ngô đại cáo” để tuyên bố độc lập cho dân tộc.Vào đầu thế kỉ XV, nước ta rơi vào ách đô hộ tàn bạo của nhà Minh. Nhân dân lầm than, đất nước điêu đứng. Trước tình cảnh ấy, Lê Lợi đã dựng cờ khởi nghĩa tại Lam Sơn. Nguyễn Trãi trở thành quân sư đắc lực, góp phần quan trọng vào việc hoạch định chiến lược và kêu gọi lòng dân. Suốt mười năm kháng chiến gian khổ, ông không chỉ lo việc quân cơ mà còn dùng ngòi bút làm vũ khí, viết nhiều thư từ gửi tướng giặc để làm lung lay ý chí xâm lược của chúng.Đến năm 1427, quân Minh đại bại và phải rút về nước. Đầu năm 1428, Lê Lợi lên ngôi hoàng đế, mở ra triều đại mới. Khi đất nước sạch bóng quân thù, Nguyễn Trãi đã thay mặt vua viết “Bình Ngô đại cáo”. Bài cáo không chỉ tổng kết chặng đường đấu tranh gian khổ mà còn khẳng định mạnh mẽ chủ quyền, nền độc lập lâu đời của Đại Việt. Những lời lẽ đanh thép, hào hùng trong bản cáo trạng ấy đã thể hiện niềm tự hào dân tộc và tư tưởng nhân nghĩa sâu sắc.“Bình Ngô đại cáo” được xem như bản tuyên ngôn độc lập thứ hai của nước ta. Qua sự việc này, em càng hiểu rõ hơn vai trò to lớn của Nguyễn Trãi trong lịch sử. Ông không chỉ là một nhà quân sự tài giỏi mà còn là một nhà văn hóa lớn, luôn đặt lợi ích của nhân dân và đất nước lên trên hết.
Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, có rất nhiều vị anh hùng đã để lại dấu ấn sâu đậm. Trong số đó, em đặc biệt ấn tượng với Trần Hưng Đạo – vị tướng tài ba đã lãnh đạo quân dân Đại Việt ba lần đánh bại quân Nguyên – Mông. Sự việc khiến em nhớ mãi chính là chiến thắng vang dội trên sông Bạch Đằng năm 1288. Năm ấy, quân Nguyên – Mông với lực lượng hùng hậu tràn vào xâm lược nước ta lần thứ ba. Chúng có đội thủy quân mạnh và nhiều kinh nghiệm chinh chiến. Trước tình thế nguy cấp, Trần Hưng Đạo đã bình tĩnh vạch ra một kế hoạch táo bạo. Ông cho người đóng những cọc gỗ lớn, đầu bịt sắt nhọn rồi bí mật cắm xuống lòng sông Bạch Đằng – nơi thủy triều lên xuống thất thường. Kế hoạch ấy đòi hỏi sự tính toán chính xác và lòng quyết tâm cao độ.Khi đoàn thuyền giặc do tướng Ô Mã Nhi chỉ huy tiến vào cửa sông, quân ta giả vờ thua, nhử địch tiến sâu vào bãi cọc đúng lúc nước triều đang dâng cao. Đến khi nước rút, những cọc gỗ nhọn hoắt trồi lên, đâm thủng và làm mắc kẹt hàng loạt chiến thuyền của giặc. Đó là thời cơ vàng để quân ta từ hai bên bờ sông và phía sau đồng loạt tấn công. Trận chiến diễn ra quyết liệt, khói lửa mù trời. Cuối cùng, quân Nguyên đại bại, nhiều tướng giặc bị bắt sống.Chiến thắng Bạch Đằng năm 1288 đã chấm dứt hoàn toàn tham vọng xâm lược của quân Nguyên – Mông đối với nước ta. Hình ảnh Trần Hưng Đạo với tầm nhìn xa trông rộng và ý chí sắt đá đã đi vào lịch sử như một biểu tượng bất diệt của lòng yêu nước và tinh thần quật cường dân tộc. Mỗi lần đọc lại câu chuyện ấy, em lại cảm thấy vô cùng tự hào và biết ơn cha ông đã hy sinh để bảo vệ Tổ quốc. Em tự nhủ sẽ cố gắng học tập, rèn luyện thật tốt để góp phần xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh, xứng đáng với truyền thống anh hùng của dân tộc Việt Nam.
Quê hương Bắc Ninh không chỉ nổi tiếng với làn điệu quan họ ngọt ngào mà còn tự hào là vùng đất địa linh nhân kiệt. Trong số những nhân vật lịch sử tiêu biểu của quê hương, em đặc biệt ấn tượng với Lý Thường Kiệt – vị tướng tài ba thời nhà Lý. Một sự việc gắn với tên tuổi của ông đã để lại trong em nhiều cảm xúc sâu sắc, đó là việc ông chỉ huy quân dân Đại Việt đánh bại quân xâm lược phương Bắc trên phòng tuyến sông Như Nguyệt. Năm 1076, quân Tống tràn sang xâm lược nước ta với lực lượng đông và trang bị mạnh. Trước tình thế nguy cấp, Lý Thường Kiệt đã chủ động cho xây dựng phòng tuyến kiên cố bên bờ sông Như Nguyệt (nay thuộc địa phận Bắc Ninh). Ông cho đắp lũy đất cao, cắm chông tre dày đặc dưới lòng sông và bố trí quân mai phục chặt chẽ. Nhờ sự chuẩn bị chu đáo ấy, quân ta đã nhiều lần đẩy lùi các đợt tấn công dữ dội của kẻ thùĐiều khiến em khâm phục hơn cả là vào một đêm khuya, khi tinh thần quân sĩ có phần dao động vì chiến sự kéo dài, Lý Thường Kiệt đã cho người ngâm vang bài thơ “Nam quốc sơn hà” bên bờ sông. Lời thơ như tiếng nói thiêng liêng khẳng định chủ quyền dân tộc, vang vọng giữa không gian tĩnh lặng khiến quân sĩ thêm phần phấn chấn, còn kẻ thù thì hoang mang lo sợ. Nhờ tinh thần ấy, quân dân ta đã giữ vững phòng tuyến, buộc quân Tống phải rút lui trong thất bại.Sự việc ấy không chỉ thể hiện tài cầm quân xuất sắc mà còn cho thấy tấm lòng yêu nước và niềm tin mãnh liệt của Lý Thường Kiệt vào độc lập dân tộc. Ông đã dùng cả trí tuệ và tinh thần để chiến thắng, không chỉ bằng gươm giáo mà còn bằng sức mạnh của ý chí.