Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Vũ Hoàng Yến Nhi
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Bài làm

Những biến động dữ dội của lịch sử nước ta không chỉ thử thách ý chí, lòng dũng cảm và tinh thần yêu nước của người dân Việt Nam mà còn là thời điểm để chứng minh sức mạnh kiên cường, bền bỉ của dân tộc ta. Sức mạnh ấy không chỉ thể hiện trên chiến trường mà còn trên bàn đàm phán. Chính trong những thử thách khắc nghiệt, những giây phút "ngàn cân treo sợi tóc", đất nước đã xuất hiện những con người mang trong mình bản lĩnh vững vàng và trí tuệ sắc sảo, dùng lời nói làm vũ khí, lấy lý lẽ làm sức mạnh để bảo vệ chính nghĩa của dân tộc. Tiêu biểu nhất đó chính là bà Nguyễn Thị Bình - nữ nhà ngoại giao tài ba đã ghi dấu ấn sâu sắc trong sự kiện Hiệp định Paris lịch sử.

Nguyễn Thị Bình thường được biết đến với tên gọi Madam Bình, tên khai sinh là Nguyễn Thị Châu Sa, sinh năm 1927 tại Quảng Nam trong một gia đình giàu truyền thống yêu nước. Là cháu ngoại của Phan Châu Trinh, bà sớm được hun đúc tinh thần độc lập và lý tưởng phụng sự Tổ quốc. Trong suốt con đường hoạt động cách mạng, bà có nhiều đóng góp quan trọng, nhưng dấu ấn sâu đậm nhất chính là vai trò tại Hội nghị Pa-ri (1968-1973) - một “trận chiến” ngoại giao khốc liệt, đồng thời là cột mốc vinh quang trong sự nghiệp đấu tranh vì độc lập dân tộc của bà.

Mùa thu năm 1968, giữa cuộc kháng chiến chống Mỹ đang ở giai đoạn đầy biến động nhất, bà Nguyễn Thị Bình được tin tưởng giao trọng trách của Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền nam Việt Nam. Hình ảnh một người phụ nữ nhỏ nhắn, diện bộ áo dài thướt tha với phong thái ung dung tự tại bước xuống sân bay Paris đã thu hút sự chú ý của truyền thông quốc tế. Suốt năm năm đàm phán đầy cam go, bà Bình đã thể hiện bản lĩnh và ý chí của một "bông hồng thép" qua những cuộc đối đầu trực diện với các phái đoàn sừng sỏ. Trước các câu hỏi hóc búa từ phóng viên phương Tây nhằm xoáy sâu vào quan điểm chính trị, có ý định xuyên tạc, bà đã khéo léo đáp trả khiến ai cũng nể phục và im lặng ngay tức khắc. Điển hình là khi một nhà báo hỏi bà có phải cộng sản không, bà đã nói: "Tôi thuộc Đảng yêu nước". Hay khi bị chất vấn về quân đội miền Bắc, bà khẳng định: "Dân tộc Việt Nam là một, người Việt Nam ở miền Bắc cũng như ở Nam đều có nghĩa vụ chiến đấu chống xâm lược." Những câu trả lời dứt khoát, đanh thép và vững vàng của bà Nguyễn Thị Bình đã dập tan mọi tư tưởng sai lệch và cái nhìn phiến diện, đồng thời giúp thế giới hiểu rõ chính nghĩa của cuộc đấu tranh Việt Nam. Đỉnh cao của cuộc đàm phán là vào ngày 27/1/1973, khi Hiệp định Paris chính thức được ký kết tại trung tâm Kléber. Trong không khí trang nghiêm, bà Bình đã đại diện cho Chính phủ Cách mạng lâm thời đặt bút ký vào bản hiệp định, khiến Mỹ rút quân, công nhận chủ quyền Việt Nam. Giây phút ấy, đôi mắt của người phụ nữ dũng cảm nhòe lệ vì xúc động khi nghĩ tới đồng bào, tới dân tộc Việt Nam.

Qua đó, ta thấy được sự kiện trên là cột mốc son chói lọi nhất trong sự nghiệp của Nguyễn Thị Bình, khẳng định bản lĩnh của một bông hồng thép và hiện thực hóa lý tưởng phục sự Tổ quốc mà bà theo đuổi suốt cuộc đời. Cuộc đàm phán Hiệp định Paris không chỉ mang lại hòa bình cho dân tộc mà còn trở thành biểu tượng truyền cảm hứng mạnh mẽ về lòng yêu nước, tư duy sắc bén và trí tuệ của người phụ nữ Việt Nam trên thế giới.

Sự kiện trên đã chứng tỏ sự khôn khéo trong ngoại giao, ý chí thép và tấm lòng yêu nước sâu nặng của bà Nguyễn Thị Bình. Hình ảnh của bà Madam Bình trên bàn đàm phán đã khiến em vô cùng tự hào và khâm phục, đồng thời là tấm gương sáng, nhắc nhở em phải có lòng yêu nước, tinh thần bảo vệ Tổ quốc và không ngừng học tập, thay đổi bản thân sao cho xứng đáng với những gì thế hệ đi trước đã để lại cho chúng ta.

Bài làm

Nói tới Bắc Ninh quê hương em là nói tới những làn điệu dân ca quan họ, những tà áo liền anh liền chị giản dị mà thướt tha, các khu di tích độc đáo và những món ăn đặc sản đặc sắc. Song đây còn được gọi là vùng đất địa linh nhân kiệt, là nơi sản sinh ra các vị danh nhân nổi tiếng, các bậc hiền tài của nước nhà. Trong số đó, em đặc biệt tự hào về Trạng nguyên Nguyễn Đăng Đạo - một vị quan tài giỏi, liêm khiết và hết lòng vì dân vì nước. Đặc biệt, sự kiện ông được cử đi sứ sang nhà Thanh năm 1697 để đòi lại đất biên giới đã để lại dấu ấn sâu sắc trong lịch sử và trong lòng người dân quê hương.

Nguyễn Đăng Đạo(1651 - 1719) tại làng Hoài Bão, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Ông sinh ra trong một gia đình có truyền thống hiếu học và nhiều người đỗ đạt cao. Ngay từ nhỏ, ông đã nổi tiếng thông minh, chăm chỉ học hành và có chí lớn. Năm 1683, ông đỗ Trạng nguyên dưới triều vua Lê Hy Tông. Nguyễn Đăng Đạo đã có nhiều đóng góp cho quê hương Bắc Ninh và đất nước Đại Việt xưa và góp phần làm rạng danh truyền thống hiếu học của vùng đất Kinh Bắc. Nhưng sự kiện đặc biệt đã ghi dấu tên tuổi của ông vào trang sử nước nhà nói chung và quê hương Bắc Ninh nói riêng là chuyến đi sứ sang nhà Thanh năm 1697 để đòi lại phần đất biên giới bị lấn chiếm.

Năm 1697, khi nhiều vùng đất biên giới của nước ta bị quan lại nhà Thanh lấn chiếm, triều đình nhà Lê đã cử Trạng nguyên Nguyễn Đăng Đạo và Nguyễn Thế Bá làm Chánh sứ sang Yên Kinh để dâng quốc thư và đòi lại đất. Đây là nhiệm vụ vô cùng quan trọng và khó khăn, bởi ông phải thay mặt đất nước tranh luận trước triều đình một nước lớn. Trước các quan nhà Thanh, Nguyễn Đăng Đạo đã bình tĩnh trình bày bản đồ, đưa ra những bằng chứng rõ ràng và lập luận chặt chẽ để khẳng định chủ quyền của Đại Việt. Vua Thanh ngay lập tức chú ý tới những vùng đất biên giới và đặc biệt ấn tượng với tài đối đáp, những luận bác hợp lí, phong thái tự tin và sự khéo léo của Nguyễn Đăng Đạo. uy chuyến đi chưa thể đòi lại đất ngay lập tức, nhưng tài năng và khí phách của ông đã khiến vua Thanh phải nể trọng. Theo tương truyền, ông còn được phong là “Lưỡng quốc Trạng nguyên”, làm rạng danh quê hương Bắc Ninh và đất nước Đại Việt.

Sự kiện đi sứ năm 1697 có ý nghĩa rất lớn đối với Trạng nguyên Nguyễn Đăng Đạo và đối với đất nước. Với ông, đây là dấu mốc quan trọng trong cuộc đời làm quan, giúp ông thể hiện trí tuệ, bản lĩnh và lòng yêu nước trước triều đình nhà Thanh và khiến nhà vua phải nể phục. Đối với cộng đồng và đất nước, sự kiện này khẳng định tinh thần kiên quyết bảo vệ chủ quyền lãnh thổ của Đại Việt và góp phần giữ gìn thể diện quốc gia trước nước lớn. Qua đó, nhân dân càng thêm tự hào về truyền thống hiếu học và khí phách của người con quê hương Bắc Ninh.

Từ sự kiện trên, em càng thêm nể phục và kính trọng vị lưỡng quốc trạng nguyên của vùng đất Kinh Bắc yêu dấu. Nguyễn Đăng Đạo đã thành công ghi danh tên tuổi của mình vào trang sử vàng nước nhà, góp phần lan tỏa truyền thống hiếu học của quê hương tới cộng đồng, xã hội. Tấm gương sáng về trí tuệ, bản lĩnh và lòng yêu nước của ông sẽ mãi là niềm tự hào của người dân Bắc Ninh. Em tự nhủ sẽ cố gắng học tập, rèn luyện thật tốt để xứng đáng với truyền thống vẻ vang ấy và góp phần xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp hơn.

Bài làm

Từ ngàn đời nay, những trang sử đất Việt đều được viết nên bằng mồ hôi, xương máu và lòng yêu nước nồng nàn của biết bao thế hệ cha ông. Mỗi khi Tổ quốc đứng trước họa xâm lăng, những bậc anh hùng hào kiệt xuất hiện, đứng ra bảo vệ cho non sông đất nước. Thời kì phong kiến, nhà Trần đã ghi dấu ấn rực rỡ vào trang sử vàng với những chiến công oanh liệt, đó là ba lần kháng chiến chống quân Nguyên Mông. Nổi bật nhất trong ba cuộc chiến đấu là chiến thắng Bạch Đằng năm 1288 dưới sự chỉ huy của Trần Hưng Đạo - vị tướng tài ba thời nhà Trần. Sự kiện lẫy lừng đó đã thể hiện bản lĩnh, trí tuệ sâu sắc của người Việt xưa.

Trần Hưng Đạo(1226 - 1300) hay được gọi là Hưng Đạo Vương, tên thật là Trần Quốc Tuấn. Ông là vị tướng kiệt xuất thời nhà Trần. Hưng Đạo Vương được phong làm Quốc công Tiết chế và lãnh đạo quân dân ta đánh bại quân Nguyên Mông trong ba lần xâm lược, tiêu biểu là chiến thắng Bạch Đằng năm 1288. Không chỉ giỏi cầm quân, ông còn để lại tác phẩm “Hịch tướng sĩ” nổi tiếng, khơi dậy tinh thần yêu nước của quân dân ta.

Trận chiến chống quân Nguyên Mông trên sông Bạch Đằng năm 1288 đã mang lại chiến thắng vang dội cho nước Đại Việt. Trận chiến ấy đã đập tan ý định xâm lược của quân Nguyên Mông, bảo vệ vững chắc nền độc lập của đất nước và khẳng định sức mạnh, ý chí quyết tâm, tư duy sắc xảo của Trần Hưng Đạo.
Cuối tháng 12 năm 1287, khoảng 50 vạn quân Nguyên chia làm ba đạo từ ba hướng tiến vào nước ta với ý định đánh chiếm Thăng Long. Đạo quân do Thoát Hoan chỉ huy tiến theo đường Lạng Sơn, đạo A Lỗ theo đường sông Hồng, còn thủy quân do Ô Mã Nhi chỉ huy cùng đoàn thuyền lương tiến vào vùng Đông Bắc. Trước thế mạnh của địch, Trần Hưng Đạo chủ trương vừa chặn đánh vừa rút lui để bảo toàn lực lượng, đồng thời thực hiện kế “vườn không nhà trống” khiến quân Nguyên rơi vào tình thế hết sức khó khăn. Lúc này, bọn chúng vừa thiếu lương thực, vừa kiệt sức vừa chán nản. Đặc biệt, Trần Khánh Dư đã phục kích ở Vân Đồn, tiêu diệt toàn bộ đoàn thuyền lương của giặc, đẩy chúng vào tình thế khủng hoảng. Sau hơn một tháng chiếm đóng Thăng Long nhưng không đạt được mục tiêu, cộng với ám ảnh lần trước, Thoát Hoan buộc phải rút quân về nước. Nắm bắt thời cơ, Trần Hưng Đạo cho quân bí mật chuẩn bị trận địa trên sông Bạch Đằng. Ông cho đóng hàng nghìn cọc gỗ lớn, đầu bịt sắt nhọn, cắm sâu xuống lòng sông ở những nơi hiểm yếu, lợi dụng nước thủy triều lên xuống để che giấu những cái cọc đó. Hai bên bờ và các lạch sông, quân ta được bố trí mai phục sẵn sàng chờ lệnh. Mọi công việc đều được tiến hành khẩn trương nhưng vô cùng kín đáo, chờ đợi thời cơ quyết chiến với quân giặc. Tháng 4 năm 1288, quân ta nhử thuyền của Ô Mã Nhi tiến vào vùng trận địa. Lúc ấy thủy triều đang xuống, nước chảy mạnh, những chiếc thuyền của quân địch bất ngờ lao ra, bị cọc chặn lại. Quân ta từ hai bên bờ và các lạch sông đồng loạt tấn công dữ dội, tiêu diệt hoàn toàn đạo thủy quân. Trên đường bộ, quân Nguyên cũng bị đánh tả tơi, tan tác, Thoát Hoan phải tháo chạy về nước. Cuộc kháng chiến lần thứ ba chống Nguyên Mông kết thúc thắng lợi vẻ vang, bảo vệ vững chắc nền độc lập của Đại Việt.

Như vậy, ta thấy rằng chiến thắng trên sông Bạch Đằng đã đưa tên tuổi Trần Hưng Đạo vang xa không chỉ ở trong nước mà còn trên thế giới. Đồng thời sự kiện ấy trở thành niềm tự hào của dân tộc Việt Nam. Đây là dấu mốc quan trọng trong cuộc đời ông, góp phần thể hiện lòng yêu nước, tinh thần chiến đấu, bảo vệ Tổ quốc quyết liệt và tư duy nhạy bén, thông minh của Trần Hưng Đạo. Vị lãnh tướng hào kiệt ấy đã được ghi danh vào lịch sử nước nhà và cuộc chiến trên đã trở thành sự kiện đầy vẻ vang của non sông nước Việt.
Sự kiện trên đã giúp em có thêm nhiều hiểu biết về lịch sử đất nước, đã khơi dậy trong em tinh thần yêu nước, bảo vệ Tổ quốc và không ngừng học hỏi, tìm tòi khám phá để mở mang hiểu biết thêm về những trang sử hào hùng và trở thành một công dân tốt. Trần Hưng Đạo mãi là một tấm gương sáng mà em cần noi theo và học tập, ghi nhớ công ơn to lớn của ông để xứng đáng là người con đất Việt.

Các thao tác kẻ đường viền cho bảng dữ liệu này:
B1: Chọn vùng dữ liệu: Dùng chuột bôi đen toàn bộ dữ liệu cần kẻ khung
B2: Kẻ viền cho từng ô:
+ Tại thẻ Home, tìm nhóm Font, bấm vào mũi tên cạnh công cụ (biểu tượng hình vuông)
+ Sau đó chọn "All Borders" để kẻ viền cho từng ô.
B3: Kẻ khung bao quanh toàn bộ dữ liệu
+ Dùng chuột đánh dấu toàn bộ dữ liệu, vẫn ở công cụ Borders, chọn "Thick Outside Borders" để kẻ khung bao quanh.

Các thao tác để sao chép trang "Doanh số 01" và đặt bản sao đó (sau khi đổi tên thành "Doanh số Q2") đúng vị trí mong muốn:
B1: Mở file Excel có chứa trang tính "Doanh số Q1".
B2: Nhấp chuột phải vào tên trang tính "Doanh số Q1" và chọn "Move or Copy".
B3: Trong hộp thoại "Move or Copy" bấm tích vào ô "Creat a copy".

B4: Nhấn Ok để hoàn tất sao chép.

Để xóa bỏ 1 trang tính không cần thiết ta cần:
B1: Nhúp chuột phải vào tên trang tính đó ở thanh tab dưới cửa sổ Excel.
B2: Chọn Delete
Khi ta xóa trang tính đó thì mọi dữ liệu, định dạng trong trang tính sẽ bị xóa bỏ hoàn toàn và không thể khôi phục lại bằng lệnh Ctrl+Z, tuy nhiên điều này không ảnh hưởng tới các trang tính khác.

Các bước thực hiện để định dạng đường viền và khung dữ liệu đó:
B1: Chọn vùng dữ liệu: Dùng chuột bôi đen toàn bộ dữ liệu điểm số học sinh cần kẻ khung
B2: Kẻ viền cho từng ô:
+ Tại thẻ Home, tìm nhóm Font, bấm vào mũi tên cạnh công cụ (biểu tượng hình vuông)
+ Sau đó chọn "All Borders" để kẻ viền cho từng ô.
B3: Kẻ khung bao quanh toàn bộ dữ liệu
+ Dùng chuột đánh dấu toàn bộ dữ liệu, vẫn ở công cụ Borders, chọn "Thick Outside Borders" để kẻ khung bao quanh.

Các bước tạo một trang tính mới và sau đó đổi tên trang tính đó thành "Thống kê Hàng Hóa":

B1: Mở phần mềm Excel.

B2: Tạo trang tính mới bằng cách nhấp vào biểu tượng "+"/ "New Sheet" ở cuối cửa sổ Excel.

B3: Đổi tên trang tính mới bằng cách:
+ Nhấp đúp chuột phải vào tên của trang tính mới.
+ Chọn Rename ở Menu hiện ra.
+ Thay đổi tên thành "Thống kê Hàng Hóa" rồi nhấn Enter.

Bộ phận màn hình cảm ứng của điện thoại thông minh vừa là thiết bị vào vừa là thiết bị ra.

a): Thiết bị ra

b): Thiết bị vào

c): Thiết bị vừa vào vừa ra