Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Vũ Hồng Hà
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Bạn không thể chạm vào cái này

Câu 1. Cảm xúc về hình ảnh người lính và tình đồng chí trong bài thơ "Đồng chí"

Bài thơ "Đồng chí" của Chính Hữu đã để lại trong em những xúc cảm sâu sắc về vẻ đẹp giản dị mà cao cả của anh bộ đội cụ Hồ thời kháng Pháp. Hình ảnh người lính hiện lên thật chân thực với nguồn gốc từ những miền quê nghèo "nước mặn đồng chua", "đất cày lên sỏi đá". Chính sự tương đồng về cảnh ngộ và lý tưởng chiến đấu đã kết nối những người xa lạ thành "tri kỷ", thành "đồng chí". Em đặc biệt xúc động trước sự sẻ chia những gian lao thiếu thốn: từ "đêm rét chung chăn" đến những cơn sốt rét rừng run người, hay hình ảnh "áo rách vai", "chân không giày". Giữa cái lạnh buốt giá của rừng hoang sương muối, cái nắm tay ấm áp trở thành sức mạnh diệu kỳ để họ vượt qua tất cả. Câu thơ cuối "Đầu súng trăng treo" là biểu tượng đẹp đẽ về sự kết hợp giữa tinh thần chiến đấu và tâm hồn thi sĩ, giữa thực tại khốc liệt và khát vọng hòa bình. Tình đồng chí ấy thật thiêng liêng, cao quý, là điểm tựa vững chắc để người lính đi qua cuộc chiến tranh trường kỳ.

Câu 2

Bài làm

Mỗi mùa hè đi qua đều để lại trong lòng chúng ta những dư âm riêng biệt, nhưng với tôi, kỳ nghỉ hè năm ngoái là một cột mốc đặc biệt. Đó là chuyến về quê nội một mình – một hành trình giúp tôi thoát khỏi ánh sáng xanh của màn hình máy tính để tìm về với vẻ đẹp mộc mạc của làng quê và những bài học quý giá về sự lao động.

Quê nội tôi là một ngôi làng nhỏ thanh bình nằm bên bờ sông Đáy. Khác hẳn với không khí ồn ào, náo nhiệt của phố thị, nơi đây đón tôi bằng luồng gió mát rượi mang theo hương lúa chín thơm nồng. Trải nghiệm khó quên nhất của tôi chính là buổi chiều cùng nội ra đồng gặt lúa vào đúng dịp chính vụ.

Dưới cái nắng như đổ lửa của tháng Sáu, tôi lần đầu tiên được cầm chiếc liềm, tập tành những nhát cắt đầu tiên. Chỉ sau mười phút, lưng tôi bắt đầu mỏi nhừ, mồ hôi chảy ròng ròng xuống mặt, và những chiếc lá lúa sắc lẹm cứa vào tay đau rát. Tôi nhìn xung quanh, thấy các bác nông dân và cả nội nữa, ai nấy đều hăng say làm việc, nụ cười vẫn rạng rỡ trên những khuôn mặt sạm đen vì nắng gió. Hình ảnh ấy khiến tôi chợt khựng lại, cảm thấy vừa khâm phục vừa tự trách mình vì trước đây đã có lúc tôi lãng phí thức ăn mà không biết rằng để có được hạt gạo trắng trong là bao nỗi nhọc nhằn "một nắng hai sương".

Sự cố xảy ra khi tôi mải mê đuổi theo một chú muỗm mà trượt chân ngã nhào xuống rãnh bùn. Nhìn bộ quần áo mới tinh đã lấm lem màu bùn đất, tôi vừa xấu hổ, vừa định bật khóc. Nhưng lúc đó, nội đã đến bên, đỡ tôi dậy và cười hiền hậu: "Bùn này hiền lắm con ạ, nó nuôi sống làng mình đấy. Phải chạm tay vào đất mới biết thương lấy hạt cơm mình ăn". Câu nói giản đơn ấy của nội như một luồng điện chạy dọc sống lưng, giúp tôi hiểu ra giá trị thiêng liêng của lao động.

Buổi chiều hôm đó kết thúc bằng việc tôi cùng đám trẻ trong làng nhảy tùm xuống dòng sông mát lạnh. Tiếng cười đùa vang vọng cả một khúc sông, xua tan đi mọi mệt nhọc. Tôi nhận ra, hạnh phúc không chỉ nằm ở những món đồ chơi đắt tiền hay trò chơi điện tử hấp dẫn, mà nó hiện hữu ngay trong những điều bình dị, trong sự gắn kết giữa con người và thiên nhiên.

Chuyến đi ấy đã thay đổi tôi rất nhiều. Tôi trở về thành phố với một làn da rám nắng và một tâm thế mới: biết trân trọng cuộc sống, biết sẻ chia và yêu thương những người lao động xung quanh mình hơn. Đó chắc chắn là mùa hè rực rỡ nhất mà tôi từng có.

Trả lời :

Câu 1. Ngôi kể

  • Văn bản sử dụng ngôi kể thứ nhất (người kể chuyện xưng "tôi" – nhân vật En-ri-cô).

Câu 2. Lời của nhân vật

  • Có nhiều lời thoại trong văn bản, bạn có thể chọn một trong các câu sau:
    • Lời người đàn bà: "Ông ấy chết rồi, chết rồi!"
    • Lời bố nhân vật tôi: "Cháu về đi, cháu ạ; chạy nhanh về với bố cháu, cháu sẽ thấy bố cháu mạnh khỏe, yên lành."
    • Lời người râu đen: "Đồ khốn, ít nhất cũng phải bỏ mũ chào khi trông thấy một người bị tai nạn lao động đi qua."

Câu 3. Sự khác biệt về thái độ của Franti và nhân vật "tôi"

  • Sự khác biệt:
    • Nhân vật "tôi": Cảm thấy kinh hãi, thương xót và đồng cảm sâu sắc. "Tôi" lo lắng cho bạn mình (cậu bé thợ nề) và liên tưởng đến sự an toàn của chính bố mình. Thái độ này thể hiện một trái tim nhạy cảm và giàu lòng nhân ái.
    • Nhân vật Franti: Dửng dưng, thậm chí là vô cảm đến mức tàn nhẫn khi nở nụ cười trước cảnh tượng đau thương của người gặp nạn.
  • Suy nghĩ của em: Nhân vật "tôi" là tấm gương về sự thấu cảm, biết trân trọng giá trị con người và lao động. Ngược lại, Franti đại diện cho sự băng hoại về đạo đức, đáng bị lên án vì thái độ thờ ơ trước nỗi đau của đồng loại.

Câu 4. Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ

  • Biện pháp tu từ: So sánh ("run run như cầy sấy").
  • Tác dụng:
    • Về nội dung: Nhấn mạnh trạng thái hoảng sợ, lo lắng đến cực độ của cậu bé thợ nề khi chứng kiến một người lao động cùng nghề với bố mình gặp nạn. Hình ảnh này gợi lên sự nhỏ bé, đáng thương và tình yêu thương bố da diết của cậu bé.
    • Về nghệ thuật: Làm cho câu văn trở nên sinh động, giàu hình ảnh, giúp người đọc hình dung rõ nét tâm trạng bất ổn của nhân vật.

Câu 5. Thông điệp của tác giả

Qua câu chuyện, tác giả Edmondo De Amicis muốn gửi gắm thông điệp sâu sắc về lòng trắc ẩn và sự tôn trọng đối với người lao động. Mỗi chúng ta cần biết đồng cảm, chia sẻ trước những rủi ro, mất mát mà người khác gặp phải, đặc biệt là những người lao động nghèo khổ. Sự vô cảm trước nỗi đau của đồng loại (như nhân vật Franti) là một thái độ đáng xấu hổ và cần bị loại bỏ. Đồng thời, văn bản còn nhắc nhở chúng ta về giá trị của sự an toàn và tình cảm gia đình thiêng liêng.

  • Văn bản sử dụng ngôi kể thứ nhất (người kể chuyện xưng "tôi" – nhân vật En-ri-cô).

Câu 2. Lời của nhân vật

  • Có nhiều lời thoại trong văn bản, bạn có thể chọn một trong các câu sau:
    • Lời người đàn bà: "Ông ấy chết rồi, chết rồi!"
    • Lời bố nhân vật tôi: "Cháu về đi, cháu ạ; chạy nhanh về với bố cháu, cháu sẽ thấy bố cháu mạnh khỏe, yên lành."
    • Lời người râu đen: "Đồ khốn, ít nhất cũng phải bỏ mũ chào khi trông thấy một người bị tai nạn lao động đi qua."

Câu 3. Sự khác biệt về thái độ của Franti và nhân vật "tôi"

  • Sự khác biệt:
    • Nhân vật "tôi": Cảm thấy kinh hãi, thương xót và đồng cảm sâu sắc. "Tôi" lo lắng cho bạn mình (cậu bé thợ nề) và liên tưởng đến sự an toàn của chính bố mình. Thái độ này thể hiện một trái tim nhạy cảm và giàu lòng nhân ái.
    • Nhân vật Franti: Dửng dưng, thậm chí là vô cảm đến mức tàn nhẫn khi nở nụ cười trước cảnh tượng đau thương của người gặp nạn.
  • Suy nghĩ của em: Nhân vật "tôi" là tấm gương về sự thấu cảm, biết trân trọng giá trị con người và lao động. Ngược lại, Franti đại diện cho sự băng hoại về đạo đức, đáng bị lên án vì thái độ thờ ơ trước nỗi đau của đồng loại.

Câu 4. Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ

  • Biện pháp tu từ: So sánh ("run run như cầy sấy").
  • Tác dụng:
    • Về nội dung: Nhấn mạnh trạng thái hoảng sợ, lo lắng đến cực độ của cậu bé thợ nề khi chứng kiến một người lao động cùng nghề với bố mình gặp nạn. Hình ảnh này gợi lên sự nhỏ bé, đáng thương và tình yêu thương bố da diết của cậu bé.
    • Về nghệ thuật: Làm cho câu văn trở nên sinh động, giàu hình ảnh, giúp người đọc hình dung rõ nét tâm trạng bất ổn của nhân vật.

Câu 5. Thông điệp của tác giả

Qua câu chuyện, tác giả Edmondo De Amicis muốn gửi gắm thông điệp sâu sắc về lòng trắc ẩn và sự tôn trọng đối với người lao động. Mỗi chúng ta cần biết đồng cảm, chia sẻ trước những rủi ro, mất mát mà người khác gặp phải, đặc biệt là những người lao động nghèo khổ. Sự vô cảm trước nỗi đau của đồng loại (như nhân vật Franti) là một thái độ đáng xấu hổ và cần bị loại bỏ. Đồng thời, văn bản còn nhắc nhở chúng ta về giá trị của sự an toàn và tình cảm gia đình thiêng liêng.

Xét tam giác ABC có BD và CE là hai đường trung tuyến cắt nhau => E là trung điểm của AB, D là trung điểm của AC.

=> ED là đường trung bình của tam giác ABC => ED // BC và BC = 2ED.

Vì ED // BC$ nên tứ giác BEDC là hình thang.

Xét hình thang BEDC có M, N lần lượt là trung điểm của BE và CD (gt).

=> MN là đường trung bình của hình thang BEDC => MN // ED // BC.

Xét tam giác BED có:

  • M là trung điểm của BE (gt)
  • MI // ED (vì I MN và MN // ED)
    => I là trung điểm của BD.
    => MI là đường trung bình của tam giác BED => MI = 1/2ED (1).

Xét tam giác CED có:

  • N là trung điểm của CD (gt)
  • NK // ED (vì K MN và MN // ED)
    => K là trung điểm của CE.
    => KN là đường trung bình của tam giác CED => KN = 1/2ED (2).

Xét tam giác EBC có:

  • M là trung điểm của BE (gt)
  • MK // BC (vì K MN và MN // BC)
    => MK là đường trung bình của tam giác EBC => MK = 1/2 BC.
    Mà BC = 2ED => MK = ED.

Ta có: IK = MK - MI = ED - 1/2ED = 1/2ED (3).

Từ (1), (2)(3) suy ra: MI = IK = KN (cùng bằng 1/2ED).

a) Chứng minh MN // DE

Để chứng minh hai đường thẳng này song song, chúng ta sẽ chứng minh chúng cùng song song với cạnh BC.

+ Xét tam giác ABC:

    • M là trung điểm của AC (vì BM là đường trung tuyến).
    • N là trung điểm của AB (vì CN là đường trung tuyến).
    • Suy ra MNđường trung bình của tam giác ABC.
    • => BCMN = 1/2BC(1).

+ Xét tam giác GBC:

    • D là trung điểm của GB (giả thiết).
    • E là trung điểm của GC (giả thiết).
    • Suy ra DEđường trung bình của tam giác GBC.
    • => DE // BCDE = 1/2BC (2).

Từ (1) và (2), theo tính chất bắc cầu, ta có: MN//DE (đpcm).

b) Chứng minh ND // ME

+ Từ kết quả ở câu (a), ta đã có:

    • MN // DE
    • MN = DE (vì cùng bằng 1/2BC).

+ Xét tứ giác MNDE:

    • MN // DE
    • MN = DE

=> Tứ giác MNDEhình bình hành (theo dấu hiệu nhận biết).

MNDE là hình bình hành, nên cặp cạnh đối còn lại phải song song với nhau:

=>ND // ME (đpcm).

Kẻ thêm đường phụ: Gọi E là trung điểm của MC. Kẻ đoạn thẳng DE.

  • Vì E là trung điểm MC nên ME = EC = 1/2MC.

Theo giả thiết AM = 1/2MC, suy ra AM = ME = EC (ba đoạn này bằng nhau).

a) Chứng minh O là trung điểm của AD

  • Xét tam giác BCM:
    • Có D là trung điểm BC (giả thiết).
    • Có E là trung điểm MC (cách vẽ).
    • Suy ra DE là đường trung bình của tam giác BCM.
    • Do đó DE // BM (hay DE // OM).
  • Xét tam giác ADE:
    • Có M là trung điểm của AE (vì AM = ME như đã chứng minh ở trên).
    • Có OM // DE (chứng minh trên).
    • Theo định lý đường trung bình trong tam giác, đường thẳng đi qua trung điểm một cạnh và song song với cạnh thứ hai thì đi qua trung điểm cạnh thứ ba.

Vậy O là trung điểm của AD.

b) Chứng minh OM = 1/4 BM

  • Từ các chứng minh trên, ta có:
    • OM là đường trung bình của tam giác ADE => OM = 1/2DE.
    • DE là đường trung bình của tam giác BCM => DE = 1/2BM.
  • Thay thế các đại lượng:
    • Ta có OM = 1/2⋅(1/2BM).

Vậy OM = 1/4BM.

Kẻ thêm đường phụ: Gọi E là trung điểm của DC. Kẻ đoạn thẳng ME.

a) Chứng minh AD = 1/2 DC

  • Xét tam giác BDC:
    • M là trung điểm BC (giả thiết).
    • E là trung điểm DC (cách vẽ).
    • Suy ra ME là đường trung bình của tam giác BDC.
    • Do đó ME // BD$ (hay ME // ID).
  • Xét tam giác AME:
    • I là trung điểm AM (giả thiết).
    • ID // ME (chứng minh trên).
    • Suy ra D là trung điểm của AE (theo định lý đường trung bình).
    • Do đó AD = DE.
  • Kết luận:
    • E là trung điểm DC nên DE = EC = 1/2 DC
    • AD = DE nên AD = 1/2 DC (đpcm).

b) So sánh độ dài BDID

  • Từ chứng minh ở câu a, ta có:
    • ME là đường trung bình của tam giác BDC => BD = 4ME.
    • ID là đường trung bình của tam giác AME => ME = 2ID.
  • Thay thế các đại lượng:
    • Ta có BD = 2 (2ID) = 4ID.
  • Kết luận: Độ dài BD = 4ID.