Bài làm :
Quan điểm cho rằng “đối với học sinh, kĩ năng sống không quan trọng như tri thức” là một nhận định phiến diện và cần được nhìn nhận lại một cách nghiêm túc. Thực tế cho thấy tri thức và kĩ năng sống không hề đối lập, mà bổ trợ cho nhau, cùng góp phần tạo nên sự phát triển toàn diện của mỗi học sinh. Nếu chỉ coi trọng tri thức mà xem nhẹ kĩ năng sống, con người rất dễ rơi vào tình trạng “học giỏi nhưng sống kém”, khó thích nghi với cuộc sống thực tế.
Trước hết, tri thức là nền tảng giúp học sinh hiểu biết về thế giới, phát triển tư duy và mở rộng tầm nhìn. Tuy nhiên, tri thức chỉ thực sự có ý nghĩa khi được vận dụng vào đời sống. Muốn làm được điều đó, học sinh cần có kĩ năng sống như giao tiếp, hợp tác, giải quyết vấn đề hay quản lí cảm xúc. Một người có nhiều kiến thức nhưng không biết cách ứng xử, không biết làm việc với người khác hoặc không kiểm soát được cảm xúc của mình thì khó có thể thành công và hạnh phúc. Vì vậy, kĩ năng sống chính là “cầu nối” giúp tri thức phát huy giá trị.
Bên cạnh đó, trong bối cảnh xã hội hiện đại đầy biến động, kĩ năng sống càng trở nên cần thiết đối với học sinh. Các em không chỉ đối mặt với áp lực học tập mà còn phải giải quyết nhiều vấn đề trong cuộc sống như xây dựng mối quan hệ, định hướng bản thân hay vượt qua thất bại. Nếu thiếu kĩ năng sống, học sinh dễ rơi vào trạng thái căng thẳng, mất phương hướng, thậm chí có những hành động tiêu cực. Ngược lại, khi được trang bị đầy đủ kĩ năng sống, các em sẽ tự tin hơn, biết cách thích nghi và chủ động trước mọi hoàn cảnh.
Thực tế đã chứng minh rằng nhiều người thành công không chỉ nhờ kiến thức mà còn nhờ kĩ năng sống vững vàng. Họ biết cách giao tiếp hiệu quả, làm việc nhóm tốt và kiên trì theo đuổi mục tiêu. Ngay trong môi trường học đường, những học sinh có kĩ năng sống thường học tập hiệu quả hơn, dễ hòa nhập và xây dựng được các mối quan hệ tích cực. Điều đó cho thấy kĩ năng sống không hề kém quan trọng so với tri thức, mà còn là yếu tố không thể thiếu để phát triển bản thân.
Tuy nhiên, cũng cần nhìn nhận rằng tri thức vẫn đóng vai trò rất quan trọng. Vấn đề không phải là đặt kĩ năng sống và tri thức lên bàn cân để so sánh cái nào quan trọng hơn, mà là cần kết hợp hài hòa cả hai yếu tố. Giáo dục hiện đại hướng đến việc phát triển con người toàn diện, trong đó học sinh vừa có kiến thức vững vàng, vừa có kĩ năng sống cần thiết.
Tóm lại, quan điểm xem nhẹ kĩ năng sống là chưa đúng đắn và thiếu toàn diện. Đối với học sinh, kĩ năng sống và tri thức đều quan trọng như nhau, cùng hỗ trợ để các em trưởng thành và thành công. Vì vậy, mỗi học sinh cần chủ động rèn luyện cả hai mặt, để không chỉ học tốt mà còn sống tốt trong xã hội ngày càng phát triển.
Câu 1: Văn bản tập trung bàn về vấn đề : lòng kiên trì .
Câu 2: Luận điểm : kiên trì là yếu tố then chốt giúp con người vượt qua khó khăn, thực hiện lí tưởn và đạt đến thành công.
Câu 3:
a) Từ ngữ được lặp lại: Từ "Kiên trì". Phân tích: Từ "Kiên trì" ở câu thứ nhất được lặp lại (dưới dạng ngầm định hoặc trực tiếp liên quan đến chủ thể) nhằm nhấn mạnh chủ đề trọng tâm của đoạn văn. Việc lặp lại này giúp duy trì sự tập trung của người đọc vào đức tính đang được bình luận.
Câu 4: Tác dụng của cách mở đầu đoạn văn: Giới thiệu trực tiếp vấn đề nghị luận: Ngay câu đầu đã nêu rõ “kiên trì là một phẩm chất quan trọng…”, giúp người đọc nhanh chóng hiểu chủ đề chính. Định hướng nội dung toàn bài: Khẳng định vai trò của lòng kiên trì trong thành công và vượt qua khó khăn, làm nền tảng cho các luận điểm phía sau. Tạo sự rõ ràng, mạch lạc: Cách mở đầu đi thẳng vào vấn đề khiến lập luận dễ theo dõi, không lan man. Gây hứng thú và sức thuyết phục: Việc nhấn mạnh tầm quan trọng của kiên trì khiến người đọc chú ý và sẵn sàng tiếp nhận các dẫn chứng, phân tích tiếp theo.
Câu 5 : Nhận xét về bằng chứng tác giả đã sử dụng: Bằng chứng phù hợp và dễ hiểu: Hình ảnh “hạt giống nảy mầm, phát triển rồi cho trái” là một ví dụ gần gũi, giúp người đọc dễ hình dung quá trình cần thời gian và sự kiên trì. Có tính gợi hình, giàu sức thuyết phục: So sánh cụ thể làm nổi bật quy luật: muốn đạt kết quả phải trải qua quá trình bền bỉ, không thể nóng vội. Phù hợp với luận điểm: Bằng chứng hỗ trợ tốt cho ý kiến “kiên trì là con đường dẫn đến thành công”. Tuy nhiên còn mang tính khái quát: Đây là dẫn chứng mang tính hình ảnh, chưa phải ví dụ thực tế cụ thể (con người, sự kiện), nên nếu bổ sung thêm dẫn chứng thực tiễn thì sẽ tăng sức thuyết phục hơn.
Câu 6:
Trong cuộc sống, em đã có một trải nghiệm giúp em hiểu rõ giá trị của lòng kiên trì. Trước đây, em học môn Toán không tốt và thường cảm thấy nản khi gặp bài khó. Có lúc em muốn bỏ cuộc vì nghĩ mình không đủ khả năng. Tuy nhiên, em đã quyết định kiên trì luyện tập mỗi ngày, hỏi thầy cô và bạn bè khi không hiểu. Dần dần, em tiến bộ hơn và có thể giải được những bài toán trước đây từng thấy rất khó. Cuối cùng, em đã đạt điểm cao trong kì thi và cảm thấy rất tự hào về bản thân. Trải nghiệm đó giúp em tin rằng nếu giữ vững lòng kiên trì, chúng ta có thể vượt qua mọi trở ngại và đạt được mục tiêu của mình.
Thanks
Quy đông lên s biết .
Ỏ
👍
a) Xét tam giác BAD và tam giác BFD, có:
BA=BF ( Do tam giác BAF cân tại B)
Góc ABD = Góc FBD (Do BD là phân giác góc B)
BD là cạnh chung
=> tam giác BAD = tam giác BFD ( cạnh-góc-cạnh)
b) Xét tam giác BDE:
Vì BDE cân tại B, có: BE = BD
Xét tam giác BFE và tam giác BDE, có: BF = BA
Có tam giác BDE và tam giác BFE Xét hai tam giác này, ta có: BD=BE (Theo giả thiết △BDE cân tại B).Đây vẫn là góc tạo bởi tia phân giác BD và các cạnh liên quan) BF=BA (Đã nêu ở câu a).
Nhưng để chặt chẽ hơn, ta sử dụng kết quả từ câu (a): Từ △BAD=△BFD (câu a), ta suy ra: AD=FD (hai cạnh tương ứng). △BFE và △BDE Ta có: BF=BA (GT).BE=BD (GT). (do tính chất đối xứng qua phân giác hoặc góc chung tùy vào hình vẽ).
Khi △BFE=△BDE (c.g.c), ta suy ra:
FE=DE (hai cạnh tương ứng)
Kết luận: Tam giác DEF có FE=DE nên △DEF cân tại đỉnh E.
Gọi số mấy cây của đội 1, đội 2, đội 3 lần lượt là x,y,z .
Vì số máy cày tỷ lệ nghịch với thời gian, ta có:
5x = 6y = 8z
-> x/1/5 = y/1/6 = z/1/8
Theo bài, ta có: Đội hai hơn đội ba 5 máy cày: y-z=5
Áp dụng tính chất của dãy tỉ số bằng nhau, ta có:
x/1/5 = y/1/6 = z/1/8 = y-z/ 1/6-1-8 = 5/2/48= 5*48/2=120
Do đó,
+ đội 1: 5x = 120
x= 120/5
x=24
+ đội 2: 6y=120
y=120/6
y=20
+ đội 3: 8z=120
z=120/8
z=15
Vậy: Số máy cày của đội 1, đội 2, đội 3 lần lượt là 24 máy , 20 máy, 15 máy .
a)P(x)- Q(x)= x^3-3x^2+x+1-( 2x^3-x^2+3x-4)
= x^3-3x^2+x+1-2x^3+x^2-3x+4
= -x^3-2x^2-2x+5
b) P(1)=1^3 -3* (1^2) +1+1
=1-3+1+1=0
Vậy: 1 là nghiệm của đa thức P(x)
Q(x)= 2*(1^3)-1^2+3*1-4
=2*1-1+3-4
=2-1+3-4=0
Vậy: 1 là nghiệm của đa thức Q(x) .
a) x*2= -4*( -11)
x*2= 44
x=44/2= 22
b) 5* (15-x)= 3* (x+9)
75-5x= 3x+27
-5x -3x= 27-75
-8x=-48
x= -48/ -8= 6