Một trong những sự kiện mang tính toàn cầu là “Giờ Trái Đất”. Sự kiện này đã có những tác động tích cực liên quan đến môi trường của Trái Đất.
Năm 2004, Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế Ô-xtrây-li-a tìm kiếm phương pháp truyền thông mới để đưa vấn đề biến đổi khí hậu vào hoạt động tuyên truyền. Đến năm 2005, Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế Ô-xtrây-li-a cùng công ty Lê-ô Bớc-net Xít-ni xây dựng ý tưởng về dự án “Tiếng tắt lớn”. Nhà quảng cáo Lê-ô Bớc-net đặt tên cho chiến dịch là “Giờ Trái Đất” vào năm 2006. Sau đó, một lễ khai mạc sự kiện giờ trái đất được tổ chức tại Xít-ni, Ô-xtrây-li-a vào ngày 31 tháng 3 năm 2007. Cho đến ngày 29 tháng 3 năm 2008, chiến dịch được tổ chức ở 371 thành phố, thị trấn, hơn 35 quốc gia, 50 triệu người và trong đó có Việt Nam. Một năm sau đó (2009), hơn 4000 thành phố, 88 quốc gia trên thế giới tham gia tắt đèn trong 1 giờ đồng hồ.
Sự kiện “Giờ Trái Đất” ra đời với mục đích đề cao việc tiết kiệm điện năng, giảm lượng khí thải đi-ô-xít các-bon - một khí gây ra hiệu ứng nhà kính. Đồng thời, sự kiện này cũng thu hút sự chú ý của mọi người về ý thức bảo vệ môi trường. Từ đó khẳng định quan điểm cho rằng mỗi một hành động cá nhân khi được nhân lên trên diện rộng có thể giúp làm thay đổi môi trường sống của chúng ta theo hướng ngày càng tốt hơn.
Sự kiện “Giờ Trái Đất” diễn ra với rất nhiều hoạt động có ý nghĩa như tắt đèn và các thiết bị điện không cần thiết trong một tiếng đồng hồ, tăng cường sử dụng các phương tiện giao thông xanh, tuyên truyền vận động bạn bè, người thân hưởng ứng chiến dịch… Những hành động tuy nhỏ bé nhưng đã đem lại những tác động tích cực đến Trái Đất.
Như vậy, sự kiện “Giờ Trái Đất” có ý nghĩa vô cùng to lớn, góp phần bảo vệ môi trường, tiết kiệm tài nguyên… cho nhân loại.
Câu 9 BPTU là so sánh
• to bằng ngón tay út
•to bằng con chuột
•to bằng con lon
Câu 10 , vợ chồng An Tiêm rơi vào nghịch cảnh khi bị đày ra đảo hoang, thiếu thốn mọi thứ. Tuy vậy, An Tiêm không tuyệt vọng mà tin vào sức lao động của mình. Nhờ kiên trì và chăm chỉ, ông đã vượt qua khó khăn và tìm ra giống dưa quý. Truyện cho thấy con người có thể chiến thắng nghịch cảnh nếu không bỏ cuộc.
Bài thơ "Bầm ơi!" của Tố Hữu gợi trong em những cảm xúc ấm áp và xúc động về tình mạu tử thiêng liêng. Nhân vật trữ tình là người con đi kháng chiến, dù ở xa vẫn luôn nhớ về người mẹ nơi quê nhà. Lời thơ hỏi thăm giản dị nhưng chan chứa yêu thương: "Ai về thăm mẹ quê ta... Bầm ơi! có rét không bầm?" làm em cảm nhận được nỗi nhớ nhung và âu lo của người con dành cho mẹ. Những hình ảnh chân thật như bầm cáy lúa, bầm hái chè, bầm cày ruộng cho thấy sự lam lũ, vất vả của người mẹ nông dân. Qua đó, bài thơ ca ngợi tình cảm mẺu tử và gợi cho em thêm yêu thương, trân trọng những hy sinh thầm lặng của mẹ.
Phương thức biểu đạt chính của văn bản là: tự sự.
→ Văn bản kể lại cuộc đời, sự nghiệp và chiến công của nhân vật Lý Tiến theo trình tự thời gian.
Các chi tiết có liên quan đến sự thật lịch sử trong văn bản gồm:
Vai trò của các chi tiết lịch sử:
Các chi tiết kì ảo, hoang đường trong văn bản:
Tác dụng:
Những phẩm chất đáng quý của nhân vật Lý Tiến:
→ Các phẩm chất ấy được thể hiện qua hành động, việc làm cụ thể, không phải lời kể suông.
Chi tiết: “Người dân địa phương đã chôn cất ông ngay trên nền nhà cũ và dựng … một ngôi đền để thờ ông” cho thấy:
Bài học cho thế hệ trẻ ngày nay: