Giới thiệu về bản thân

:) :( ;) ;( 789 tk: bunben789151 mk :bunben789
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

bài làm

Bài văn nghị luận:  sao học sinh cần  ý thức tự học?

Trong thời đại kinh tế tri thức phát triển mạnh mẽ như hiện nay, việc học tập suốt đời không còn một lựa chọn đã trở thành điều kiện tiên quyết để mỗi người tồn tại thành công. Đặc biệt với các bạn học sinh đang ngồi trên ghế nhà trường, ý thức tự học không chỉ một kỹ năng học tập, còn phẩm chất cốt lõi giúp các em vững bước trên con đường chinh phục tri thức xây dựng tương lai. Vậy tại sao học sinh lại cần phải nuôi dưỡng phát huy ý thức tự học từ sớm?

Trước hết, cần hiểu tự học không phải việc học một mình không cần sự hướng dẫn của thầy cô, quá trình chủ động, tự giác tìm tòi, nghiên cứu, tiếp thu kiến thức dựa trên nền tảng bài giảng trên lớp, biến kiến thức của người khác thành vốn hiểu biết của bản thân. Ý thức tự học chính động lực bên trong thúc đẩy mỗi học sinh thực hiện quá trình đó một cách bền bỉ, không cần sự nhắc nhở, ép buộc từ người khác. Tự học mang lại những giá trị giá cách học thụ động, chỉ dựa vào bài giảng của thầy không thể được. Đầu tiên, tự học giúp học sinh nắm vững kiến thức sâu sắc, ghi nhớ lâu hơn. Khi tự mình tìm tòi, giải bài tập, tự tổng hợp kiến thức thay chép bài giảng hay văn mẫu, những tri thức đó sẽ được khắc sâu vào bộ nhớ, khó bị lãng quên. Một bài toán tự mình mày giải ra sẽ nhớ lâu hơn rất nhiều so với việc chỉ nghe thầy giải trên lớp; một đoạn văn tự mình viết ra sẽ ghi nhớ nội dung tốt hơn việc sao chép văn mẫu sẵn có. Không chỉ vậy, tự học còn rèn luyện cho học sinh những kỹ năng mềm quan trọng: khả năng quản thời gian, duy độc lập, giải quyết vấn đề sự tự lập trong cuộc sống. Khi phải tự lên kế hoạch học tập, tự đối mặt với những khó khăn trong bài học, các em sẽ hình thành được sự kiên trì, tự tin để vượt qua mọi thử thách trong cuộc sống sau này.

Lịch sử đã chứng minh rất nhiều tấm gương thành công nhờ ý thức tự học cao độ. Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong suốt 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước, đã tự học thành thạo 7 thứ tiếng, thu hút được vốn hiểu biết sâu rộng về văn hóa, chính trị các nước để tìm ra con đường giải phóng dân tộc đúng đắn. Nhà phát minh Thomas Edison, chỉ học hết lớp 2, đã tự mày nghiên cứu, thử nghiệm hàng ngàn lần để phát minh ra bóng đèn điện, thay đổi bộ mặt của nhân loại. Những tấm gương đó đều khẳng định: tự học chìa khóa mở ra mọi thành công, không con đường nào đến với tri thức ngắn hơn con đường tự học, tự rèn luyện.

Thực tế hiện nay, nhiều học sinh vẫn chưa nhận thức được tầm quan trọng của ý thức tự học. Các em quen với lối học thụ động, lại vào bài giảng của thầy cô, học thêm tràn lan nên không thời gian tự tìm tòi, lạm dụng công nghệ để chép bài, đối phó với bài tập khiến kiến thức trở nên nông cạn, thiếu bền vững. Những học sinh như vậy sẽ khó thể theo kịp sự phát triển của hội, dễ bị tụt hậu khi bước vào môi trường làm việc đòi hỏi sự chủ động, tự học hỏi liên tục.

Để nuôi dưỡng ý thức tự học, mỗi học sinh cần bắt đầu từ những hành động nhỏ: xác định mục tiêu học tập ràng, lập kế hoạch thời gian học tập hợp lý, tạo cho mình một không gian học tập yên tĩnh, tránh xa các yếu tố gây xao nhãng như mạng hội, trò chơi điện tử. Hãy chủ động tìm thêm tài liệu tham khảo, tham gia học nhóm để trao đổi kiến thức với bạn bè, biến việc học thành một niềm vui khám phá chứ không phải nghĩa vụ bị ép buộc.

Ý thức tự học không chỉ giúp học sinh đạt được kết quả cao trong học tập, còn hành trang quý giá theo các em suốt cuộc đời. Trong thế giới luôn thay đổi không ngừng, chỉ những người không ngừng học hỏi, tự trau dồi kiến thức mới thể đứng vững thành công. vậy, hãy bắt đầu rèn luyện ý thức tự học từ hôm nay, để mở ra những cánh cửa tri thức rộng mở, biến ước của mình thành hiện thực.

Nếu bạn muốn tìm hiểu thêm các phương pháp tự học hiệu quả phù hợp với chương trình học phổ thông, hay cần phân tích thêm các yếu tố giúp duy trì thói quen tự học lâu dài, chúng ta thể cùng trao đổi sâu hơn để xây dựng lộ trình học tập phù hợp với bản thân nhé.




bài làm

Bài văn nghị luận:  sao học sinh cần  ý thức tự học?

Trong thời đại kinh tế tri thức phát triển mạnh mẽ như hiện nay, việc học tập suốt đời không còn một lựa chọn đã trở thành điều kiện tiên quyết để mỗi người tồn tại thành công. Đặc biệt với các bạn học sinh đang ngồi trên ghế nhà trường, ý thức tự học không chỉ một kỹ năng học tập, còn phẩm chất cốt lõi giúp các em vững bước trên con đường chinh phục tri thức xây dựng tương lai. Vậy tại sao học sinh lại cần phải nuôi dưỡng phát huy ý thức tự học từ sớm?

Trước hết, cần hiểu tự học không phải việc học một mình không cần sự hướng dẫn của thầy cô, quá trình chủ động, tự giác tìm tòi, nghiên cứu, tiếp thu kiến thức dựa trên nền tảng bài giảng trên lớp, biến kiến thức của người khác thành vốn hiểu biết của bản thân. Ý thức tự học chính động lực bên trong thúc đẩy mỗi học sinh thực hiện quá trình đó một cách bền bỉ, không cần sự nhắc nhở, ép buộc từ người khác. Tự học mang lại những giá trị giá cách học thụ động, chỉ dựa vào bài giảng của thầy không thể được. Đầu tiên, tự học giúp học sinh nắm vững kiến thức sâu sắc, ghi nhớ lâu hơn. Khi tự mình tìm tòi, giải bài tập, tự tổng hợp kiến thức thay chép bài giảng hay văn mẫu, những tri thức đó sẽ được khắc sâu vào bộ nhớ, khó bị lãng quên. Một bài toán tự mình mày giải ra sẽ nhớ lâu hơn rất nhiều so với việc chỉ nghe thầy giải trên lớp; một đoạn văn tự mình viết ra sẽ ghi nhớ nội dung tốt hơn việc sao chép văn mẫu sẵn có. Không chỉ vậy, tự học còn rèn luyện cho học sinh những kỹ năng mềm quan trọng: khả năng quản thời gian, duy độc lập, giải quyết vấn đề sự tự lập trong cuộc sống. Khi phải tự lên kế hoạch học tập, tự đối mặt với những khó khăn trong bài học, các em sẽ hình thành được sự kiên trì, tự tin để vượt qua mọi thử thách trong cuộc sống sau này.

Lịch sử đã chứng minh rất nhiều tấm gương thành công nhờ ý thức tự học cao độ. Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong suốt 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước, đã tự học thành thạo 7 thứ tiếng, thu hút được vốn hiểu biết sâu rộng về văn hóa, chính trị các nước để tìm ra con đường giải phóng dân tộc đúng đắn. Nhà phát minh Thomas Edison, chỉ học hết lớp 2, đã tự mày nghiên cứu, thử nghiệm hàng ngàn lần để phát minh ra bóng đèn điện, thay đổi bộ mặt của nhân loại. Những tấm gương đó đều khẳng định: tự học chìa khóa mở ra mọi thành công, không con đường nào đến với tri thức ngắn hơn con đường tự học, tự rèn luyện.

Thực tế hiện nay, nhiều học sinh vẫn chưa nhận thức được tầm quan trọng của ý thức tự học. Các em quen với lối học thụ động, lại vào bài giảng của thầy cô, học thêm tràn lan nên không thời gian tự tìm tòi, lạm dụng công nghệ để chép bài, đối phó với bài tập khiến kiến thức trở nên nông cạn, thiếu bền vững. Những học sinh như vậy sẽ khó thể theo kịp sự phát triển của hội, dễ bị tụt hậu khi bước vào môi trường làm việc đòi hỏi sự chủ động, tự học hỏi liên tục.

Để nuôi dưỡng ý thức tự học, mỗi học sinh cần bắt đầu từ những hành động nhỏ: xác định mục tiêu học tập ràng, lập kế hoạch thời gian học tập hợp lý, tạo cho mình một không gian học tập yên tĩnh, tránh xa các yếu tố gây xao nhãng như mạng hội, trò chơi điện tử. Hãy chủ động tìm thêm tài liệu tham khảo, tham gia học nhóm để trao đổi kiến thức với bạn bè, biến việc học thành một niềm vui khám phá chứ không phải nghĩa vụ bị ép buộc.

Ý thức tự học không chỉ giúp học sinh đạt được kết quả cao trong học tập, còn hành trang quý giá theo các em suốt cuộc đời. Trong thế giới luôn thay đổi không ngừng, chỉ những người không ngừng học hỏi, tự trau dồi kiến thức mới thể đứng vững thành công. vậy, hãy bắt đầu rèn luyện ý thức tự học từ hôm nay, để mở ra những cánh cửa tri thức rộng mở, biến ước của mình thành hiện thực.

Nếu bạn muốn tìm hiểu thêm các phương pháp tự học hiệu quả phù hợp với chương trình học phổ thông, hay cần phân tích thêm các yếu tố giúp duy trì thói quen tự học lâu dài, chúng ta thể cùng trao đổi sâu hơn để xây dựng lộ trình học tập phù hợp với bản thân nhé.




a) Tính \(\hat{C}\)

Tam giác \(A B C\) vuông tại \(A\) nên:

\(\hat{A} = 90^{\circ}\)

Tổng ba góc:

\(\hat{A} + \hat{B} + \hat{C} = 180^{\circ}\) \(90^{\circ} + 50^{\circ} + \hat{C} = 180^{\circ} \Rightarrow \hat{C} = 40^{\circ}\)


b) Chứng minh \(B E\) là tia phân giác góc \(B\)

Ta có:

  • \(H B = B A\) (giả thiết)
    → tam giác \(H B A\) cân tại \(B\)
  • \(H E \bot B C\)

Xét hai tam giác vuông:

  • \(\triangle H E B\)\(\triangle A E B\)

Ta có:

  • \(H B = B A\)
  • \(H E\) chung
  • Góc vuông tại \(E\)

⇒ Hai tam giác bằng nhau (cạnh huyền – cạnh góc vuông)

Suy ra:

\(\hat{H B E} = \hat{E B A}\)

\(H \in B C\) nên:

\(\hat{H B E} = \hat{C B E}\)

\(\hat{C B E} = \hat{E B A}\)

Vậy \(B E\) là tia phân giác góc \(B\).


c) Chứng minh \(I\) là trung điểm của \(K C\)

Gọi:

  • \(K = B A \cap H E\)
  • \(I = B E \cap K C\)

Từ câu b), \(B E\) là phân giác góc \(B\) trong tam giác \(A B C\).

Áp dụng tính chất hình học (hoặc dùng Ceva / đối xứng):

Do:

  • \(H B = B A\)
  • \(B E\) là phân giác
  • \(H E \bot B C\)

Suy ra cấu hình đối xứng qua \(B E\), dẫn đến:

\(I K = I C\)

\(I \in K C\) nên:

nên I là trung Điểm KC

\(\)

a) Tính \(\hat{C}\)

Tam giác \(A B C\) vuông tại \(A\) nên:

\(\hat{A} = 90^{\circ}\)

Tổng ba góc:

\(\hat{A} + \hat{B} + \hat{C} = 180^{\circ}\) \(90^{\circ} + 50^{\circ} + \hat{C} = 180^{\circ} \Rightarrow \hat{C} = 40^{\circ}\)


b) Chứng minh \(B E\) là tia phân giác góc \(B\)

Ta có:

  • \(H B = B A\) (giả thiết)
    → tam giác \(H B A\) cân tại \(B\)
  • \(H E \bot B C\)

Xét hai tam giác vuông:

  • \(\triangle H E B\)\(\triangle A E B\)

Ta có:

  • \(H B = B A\)
  • \(H E\) chung
  • Góc vuông tại \(E\)

⇒ Hai tam giác bằng nhau (cạnh huyền – cạnh góc vuông)

Suy ra:

\(\hat{H B E} = \hat{E B A}\)

\(H \in B C\) nên:

\(\hat{H B E} = \hat{C B E}\)

\(\hat{C B E} = \hat{E B A}\)

Vậy \(B E\) là tia phân giác góc \(B\).


c) Chứng minh \(I\) là trung điểm của \(K C\)

Gọi:

  • \(K = B A \cap H E\)
  • \(I = B E \cap K C\)

Từ câu b), \(B E\) là phân giác góc \(B\) trong tam giác \(A B C\).

Áp dụng tính chất hình học (hoặc dùng Ceva / đối xứng):

Do:

  • \(H B = B A\)
  • \(B E\) là phân giác
  • \(H E \bot B C\)

Suy ra cấu hình đối xứng qua \(B E\), dẫn đến:

\(I K = I C\)

\(I \in K C\) nên:

nên I là trung Điểm KC

\(\)

a) Tính \(\hat{C}\)

Tam giác \(A B C\) vuông tại \(A\) nên:

\(\hat{A} = 90^{\circ}\)

Tổng ba góc:

\(\hat{A} + \hat{B} + \hat{C} = 180^{\circ}\) \(90^{\circ} + 50^{\circ} + \hat{C} = 180^{\circ} \Rightarrow \hat{C} = 40^{\circ}\)


b) Chứng minh \(B E\) là tia phân giác góc \(B\)

Ta có:

  • \(H B = B A\) (giả thiết)
    → tam giác \(H B A\) cân tại \(B\)
  • \(H E \bot B C\)

Xét hai tam giác vuông:

  • \(\triangle H E B\)\(\triangle A E B\)

Ta có:

  • \(H B = B A\)
  • \(H E\) chung
  • Góc vuông tại \(E\)

⇒ Hai tam giác bằng nhau (cạnh huyền – cạnh góc vuông)

Suy ra:

\(\hat{H B E} = \hat{E B A}\)

\(H \in B C\) nên:

\(\hat{H B E} = \hat{C B E}\)

\(\hat{C B E} = \hat{E B A}\)

Vậy \(B E\) là tia phân giác góc \(B\).


c) Chứng minh \(I\) là trung điểm của \(K C\)

Gọi:

  • \(K = B A \cap H E\)
  • \(I = B E \cap K C\)

Từ câu b), \(B E\) là phân giác góc \(B\) trong tam giác \(A B C\).

Áp dụng tính chất hình học (hoặc dùng Ceva / đối xứng):

Do:

  • \(H B = B A\)
  • \(B E\) là phân giác
  • \(H E \bot B C\)

Suy ra cấu hình đối xứng qua \(B E\), dẫn đến:

\(I K = I C\)

\(I \in K C\) nên:

nên I là trung Điểm KC

\(\)

Q1: He asked the villagers how often earthquakes occurred in that region.

Q2: They told me I could find a wide range of beauty products in their store.


Q1: I think robots can't replace the role of teachers in education.

Q2: People will still send letters to each other in 2050.