Bài 5 rừng có vài trò cũ là một phần sự sống cho con người , rừng còn là lá phổi xanh, rừng cúng là một hệ sinh thái.
Bài 6 mối khu rừng đều mang cho mình một câu chuyện riêng sự sống, sự sinh trưởng.
Bài 7 chúng ta kết nối giữa con người và thiên nhiên.
Bài 8 và, đã,đổi,
Bài 9 nạn phá rừng , khái thái tài nguyên thiên nhiên và biến đổi khí hậu.
Câu 5: (0,5 điểm)
Rừng có vai trò cung cấp không khí trong lành, duy trì sự cân bằng sinh thái và là nguồn tài nguyên quý giá cho con người.
Câu 6: (0,5 điểm)
Rừng đóng vai trò quan trọng đối với sự sống và sinh thái của Trái Đất, nhưng hiện nay các khu rừng đang bị đe dọa bởi nạn chặt phá và khai thác tài nguyên. Việc bảo vệ và tái tạo rừng là nhiệm vụ cấp bách.
Câu 7: (1,0 điểm)
+ Rừng không chỉ là nguồn tài nguyên quý giá mà còn có vai trò quan trọng trong việc duy trì sự sống và bảo vệ môi trường.
+ Chúng ta cần bảo vệ và tái tạo rừng để duy trì hệ sinh thái và giảm thiểu các tác động tiêu cực từ biến đổi khí hậu.
Câu 8: (1,0 điểm)
dùng được từ ngữ nối để liên kết câu. Có thể là “Do đó”, “Vì vậy”, “Vì thế”,…
Câu 9: (1,0 điểm)
+ Tăng cường giáo dục cộng đồng về tầm quan trọng của rừng.
+ Cấm chặt phá rừng và kiểm soát khai thác tài nguyên rừng.
+ Trồng lại rừng và bảo vệ các khu rừng tự nhiên.
+ Thực hiện các chương trình bảo vệ môi trường và duy trì sự phát triển bền vững.
Câu 5: (0,5 điểm)
Ông nội còn chia sẻ với Tuấn những câu chuyện về cuộc sống, về sự kiên nhẫn và yêu thương mà con người dành cho thiên nhiên.
Câu 6: (0,5 điểm)
Nội dung chính của bài đọc là câu chuyện về Tuấn học cách trồng cây từ ông nội, qua đó không chỉ học được kỹ thuật trồng trọt mà còn nhận thức được giá trị của sự kiên nhẫn, chăm sóc và yêu thương thiên nhiên.
Câu 7: (1,0 điểm)
Trồng cây không chỉ là một công việc nông nghiệp mà còn là quá trình nuôi dưỡng ước mơ. Cần có kiên nhẫn, chăm chỉ và tình yêu với thiên nhiên để cây cối phát triển tốt và mang lại niềm vui, hạnh phúc.
Câu 8: (1,0 điểm)
dùng được từ ngữ nối để liên kết câu. Có thể là “Do đó”, “Vì vậy”, “Vì thế”,…
Câu 9: (1,0 điểm)
Đồng ý:
Trồng cây cần kiên nhẫn và chăm sóc, giống như ước mơ cần thời gian và nỗ lực.
Cây trưởng thành mang lại trái ngọt, giống như ước mơ thành hiện thực sau nỗ lực.
Câu 5 (0,5 điểm).
Sau khi nghe mẹ giải thích, An mong muốn lớn lên sẽ làm nông dân (giống như ông bà nội của mình).
Câu 6 (0,5 điểm).
− Đại từ thay thế là từ: "thế".
− Thay thế cho nội dung/ cụm từ: "người ta dán rất nhiều áp phích về xây dựng nông thôn mới ở các toà nhà trong thành phố".
Câu 7 (1,0 điểm).
Cảm nhận về nhân vật mẹ An:
− Mẹ rất hiền và quan tâm đến con, luôn nói chuyện nhẹ nhàng với An.
− Mẹ An là người hiểu biết và luôn sẵn sàng giải thích cho An khi bạn thắc mắc.
Câu 8 (1,0 điểm).
Qua câu chuyện, em học được những bài học quý giá:
− Mọi nghề nghiệp chân chính trong xã hội đều đáng quý, đáng trân trọng và có đóng góp riêng cho cuộc sống (người nông dân làm ra lúa gạo, giáo viên dạy dỗ học sinh,...).
− Không nên phân biệt đối xử hay coi trọng nghề này, coi thường nghề kia.
Công viên nơi em sống thật đẹp. Vào một buổi sáng sớm khi ông mặt trời vừa thức dậy, không khí trong lành làm em thấy rất sảng khoái.
Không gian công viên rộng lớn, thoáng đãng. Màn sương mờ ảo vẫn còn bao phủ lên cây cối như một chiếc khăn voan mỏng. Bầu trời cao và trong xanh, những đám mây trắng nhởn nhơ bay. Những bác đa già toả bóng mát rượi, những chị liễu điệu đà soi bóng xuống mặt hồ. Những hạt sương đêm còn đọng trên lá lấp lánh như những viên kim cương. Hoa hồng, hoa cúc đua nhau khoe sắc thắm và toả hương thơm ngào ngạt. Tiếng chim hót líu lo trên cành như một bản nhạc chào ngày mới. Các cụ già đi bộ, tập dưỡng sinh thong thả. Các anh chị thanh niên chạy bộ, mồ hôi nhễ nhại nhưng gương mặt tươi tắn.Trẻ em tung tăng vui chơi, tiếng cười nói rộn vang.
Em rất yêu thích công viên này. Em sẽ cùng mọi người giữ gìn vệ sinh chung để công viên luôn xanh − sạch − đẹp.
Câu 5 (0,5 điểm).
Cặp từ trái nghĩa là "cao lớn" − "bé nhỏ".
Câu 6 (0,5 điểm).
Thành phần câu:
− Trạng ngữ: Một hôm.
− Chủ ngữ: trời.
− Vị ngữ: bỗng nổi trận cuồng phong dữ dội.
Câu 7 (1,0 điểm).
Sự thay đổi từ thái độ "khinh khỉnh" sang "ngậm ngùi, xấu hổ" cho thấy:
− Cây sồi đã nhận ra sai lầm và sự kiêu ngạo vô ích của mình trước đây.
− Cây sồi là nhân vật biết lắng nghe, biết phục thiện (sẵn sàng thay đổi khi nhận ra điều đúng đắn).
Câu 8 (1,0 điểm).
Qua câu chuyện, em học được những bài học quý giá:
− Về sự đoàn kết: Một cá nhân dù mạnh đến đâu nhưng đơn độc thì cũng dễ thất bại; nhưng nhiều người nhỏ bé biết dựa vào nhau, đoàn kết lại sẽ tạo nên sức mạnh to lớn để vượt qua mọi thử thách.
− Về lòng khiêm tốn: Không bao giờ được kiêu ngạo hay coi thường người khác chỉ qua vẻ bề ngoài, vì mỗi người đều có những thế mạnh riêng mà chúng ta cần học tập.
\(\frac{8}{25}\) giờ \(+\) \(14 , 4\) phút \(+\) \(26\)\(%%\) giờ \(+\) \(10 , 8\) phút
\(=\) \(19 , 2\) phút \(+\) \(14 , 4\) phút \(+\) \(15 , 6\) phút \(+\) \(10 , 8\) phút
\(=\) \(\left(\right. 19 , 2\) phút \(+\) \(10 , 8\) phút\(\left.\right)\) \(+\) \(\left(\right. 14 , 4\) phút \(+\) \(15 , 6\) phút\(\left.\right)\)
\(=\) \(30\) phút \(+\) \(30\) phút
\(=\) \(60\) phút \(=\) \(1\) giờ
a)
Cửa hàng đó có số ki-lô-gam cam là:
60 − 27 − 12 − 15 = 6 (kg)
Tỉ số phần trăm của số ki-lô-gam nho so với tổng số ki-lô-gam của cả bốn loại quả là:
27 : 60 = 0,45
0,45 = 45%
Tỉ số phần trăm của số ki-lô-gam xoài so với tổng số ki-lô-gam của cả bốn loại quả là:
12 : 60 = 0,2
0,2 = 20%
Tỉ số phần trăm của số ki-lô-gam táo so với tổng số ki-lô-gam của cả bốn loại quả là:
15 : 60 = 0,25
0,25 = 25%
Tỉ số phần trăm của số ki-lô-gam cam so với tổng số ki-lô-gam của cả bốn loại quả là:
6 : 60 = 0,1
0,1 = 10%
b)
Do phải quay về nên quãng đường Trang phải đi thêm là:
500 × 2 = 1 000 (m) = 1 (km)
Thời gian Trang phải đi thêm là:
7 giờ 50 phút − 7 giờ 35 phút = 15 (phút) = 0,25 (giờ)
Vận tốc của Trang là:
1 : 0,25 = 4 (km/giờ)
Đáp số: 4 km/giờ.
a) | 6.5 giờ : 5 | < | 1 giờ 30 phút |
b) | 35 ngày | = | 2,5 tuần × 2 |