Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Nguyễn Hải Long
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Khi di chuyển người bị đột quỵ cần đặc biệt cẩn thận vì não đang bị tổn thương và rất nhạy cảm với mọi thay đổi. Trước hết, để người bệnh ở tư thế nằm và di chuyển nhẹ nhàng nhằm tránh gây rung lắc mạnh. Nếu bị chấn động, áp lực trong sọ có thể tăng lên, dễ làm vỡ mạch máu (nếu là đột quỵ xuất huyết) hoặc làm vùng não thiếu máu bị tổn thương nặng hơn (nếu là đột quỵ thiếu máu). Việc di chuyển nhẹ nhàng giúp giữ ổn định tuần hoàn và hạn chế tổn thương lan rộng. Ngoài ra, nâng đầu cao hơn chân (khoảng 20–30°) có tác dụng làm giảm lượng máu dồn lên não, từ đó giảm áp lực nội sọ, hạn chế phù não và nguy cơ chảy máu thêm. Tư thế này cũng giúp người bệnh dễ thở hơn, giảm nguy cơ sặc nếu có nôn ói. Tóm lại, việc đặt người bệnh nằm, di chuyển nhẹ nhàng và kê cao đầu là để giữ ổn định tình trạng não, giảm áp lực trong sọ và ngăn ngừa biến chứng nguy hiểm, giúp tăng cơ hội hồi phục cho người bị đột quỵ.

Câu 1 (0,5 điểm): Phương thức biểu đạt chính của văn bản là nghị luận. → Văn bản đưa ra quan điểm về việc trọng dụng hiền tài, đồng thời dùng lí lẽ và dẫn chứng để thuyết phục người đọc. Câu 2 (0,5 điểm): Chủ thể bài viết là vua Quang Trung (Nguyễn Huệ). → Đây là người đứng đầu đất nước, trực tiếp ban chiếu kêu gọi người hiền tài ra giúp nước. Câu 3 (1,0 điểm): Mục đích chính của văn bản: Văn bản nhằm kêu gọi, khuyến khích và tạo điều kiện để người hiền tài ra giúp nước, góp phần xây dựng và phát triển đất nước sau khi đã ổn định. Những con đường tiến cử người hiền tài được đề cập: Quan lại tiến cử: Các quan trong triều có trách nhiệm phát hiện và giới thiệu người tài. Tự tiến cử: Người có tài có thể tự mình ra trình diện, không cần chờ người khác giới thiệu. Dâng sớ, hiến kế: Người tài có thể trình bày ý kiến, kế sách giúp nước thông qua văn bản gửi lên triều đình. → Điều này thể hiện sự cởi mở, không gò bó trong việc tìm kiếm nhân tài. Câu 4 (1,0 điểm): Dẫn chứng được sử dụng: Tác giả đã đưa ra các điển tích lịch sử Trung Quốc như: Mao Toại tự tiến cử trong quân Bình Nguyên Ninh Thích gõ sừng trâu để được chú ý và được trọng dụng → Đây là những ví dụ tiêu biểu về việc người tài chủ động thể hiện bản thân để được trọng dụng. Nhận xét cách nêu dẫn chứng: Dẫn chứng cụ thể, tiêu biểu, có thật trong lịch sử Giúp tăng tính thuyết phục cho lập luận Thể hiện sự hiểu biết sâu rộng của người viết Làm rõ quan điểm: người tài không nên giấu mình mà cần chủ động ra giúp nước Câu 5 (1,0 điểm): Thông qua văn bản, có thể thấy chủ thể bài viết (vua Quang Trung) có những phẩm chất nổi bật: Yêu nước, lo cho vận mệnh đất nước Trọng dụng hiền tài, coi nhân tài là yếu tố quan trọng để phát triển quốc gia Khiêm tốn, cầu thị, sẵn sàng lắng nghe ý kiến từ nhiều phía Tầm nhìn xa, tiến bộ, có chính sách cởi mở trong việc tìm kiếm và sử dụng người tài → Đây là hình ảnh một vị vua anh minh, sáng suốt, luôn đặt lợi ích của đất nước lên hàng đầu.

Câu 1 Trong văn bản Những vùng trời khác nhau, nhân vật Lê dành cho Sơn một tình cảm sâu sắc, chân thành và đầy trân trọng. Trước hết, đó là tình cảm của những người đồng đội cùng chiến đấu, cùng chia sẻ gian khổ nơi chiến trường. Lê luôn nhớ về Sơn với sự gần gũi, thân thiết như người anh em ruột thịt. Những kỷ niệm về đại đội pháo, về những ngày tháng chiến đấu gian khổ đã gắn kết họ lại với nhau bằng một sợi dây tình cảm bền chặt. Bên cạnh đó, trong suy nghĩ của Lê còn có sự cảm phục đối với Sơn – người bạn từng gắn bó với Hà Nội, từng quen thuộc với từng góc phố, từng mái nhà của Thủ đô. Qua những dòng hồi tưởng ấy, ta thấy được nỗi nhớ, sự trân quý và niềm tự hào của Lê dành cho người đồng đội của mình. Tình cảm đó không chỉ thể hiện tình đồng đội thắm thiết mà còn phản ánh vẻ đẹp của những con người sống và chiến đấu vì Tổ quốc. Qua đó, tác giả đã làm nổi bật tình người ấm áp giữa những người lính trong hoàn cảnh chiến tranh gian khổ.

Câu 2 Mỗi con người đều có một quê hương để nhớ, một vùng trời để thương. Trong văn bản Những vùng trời khác nhau, Nguyễn Minh Châu gợi lên một suy nghĩ sâu sắc: dù ở bất cứ nơi đâu trên dải đất hình chữ S, mỗi vùng trời quê hương đều là một phần của bầu trời Tổ quốc. Từ đó có thể khẳng định rằng: vùng trời quê hương nào cũng là bầu trời Tổ quốc. Trước hết, “vùng trời quê hương” là nơi con người sinh ra, lớn lên hoặc gắn bó bằng tình cảm sâu sắc. Còn “bầu trời Tổ quốc” tượng trưng cho đất nước rộng lớn – nơi kết tinh lịch sử, văn hóa và tình yêu của bao thế hệ. Nói “vùng trời quê hương nào cũng là bầu trời Tổ quốc” chính là khẳng định rằng mọi miền đất nước, dù là miền núi, đồng bằng hay hải đảo xa xôi, đều có giá trị thiêng liêng như nhau. Mỗi vùng đất đều góp phần tạo nên hình hài và linh hồn của đất nước. Trong thực tế, đất nước Việt Nam được tạo nên từ vô số vùng quê khác nhau. Từ những cánh đồng phù sa sông Hồng, những dòng sông miền Trung nắng gió đến những cánh rừng bạt ngàn của Tây Nguyên hay những vùng sông nước mênh mông ở Nam Bộ. Mỗi nơi đều mang vẻ đẹp riêng, truyền thống riêng nhưng tất cả đều hòa chung trong một Tổ quốc. Chính sự đa dạng ấy đã tạo nên bản sắc phong phú của đất nước. Vì vậy, yêu quê hương của mình cũng chính là yêu Tổ quốc. Trong lịch sử dân tộc, biết bao con người đã rời quê hương nhỏ bé của mình để chiến đấu và bảo vệ đất nước. Những người lính đến từ nhiều miền khác nhau nhưng họ cùng chung một lý tưởng: bảo vệ bầu trời Tổ quốc. Khi ấy, không còn ranh giới giữa các vùng miền, bởi tất cả đều hiểu rằng đất nước là mái nhà chung. Điều này càng làm nổi bật ý nghĩa sâu sắc của nhận định: mọi vùng trời quê hương đều là một phần không thể tách rời của Tổ quốc. Ngày nay, trong bối cảnh đất nước đang đổi mới và phát triển, suy nghĩ ấy vẫn mang giá trị to lớn. Mỗi người trẻ cần ý thức rằng dù mình sống ở thành phố hay nông thôn, ở miền núi hay đồng bằng, thì nơi mình đang sống cũng là một phần của đất nước. Vì vậy, mỗi người cần có trách nhiệm học tập, lao động và đóng góp để xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp. Khi mỗi vùng quê phát triển, Tổ quốc cũng sẽ trở nên mạnh mẽ và phồn vinh hơn. Tóm lại, “vùng trời quê hương nào cũng là bầu trời Tổ quốc” là một quan niệm giàu ý nghĩa nhân văn. Nó nhắc nhở mỗi chúng ta hãy trân trọng nơi mình sinh ra và lớn lên, đồng thời nuôi dưỡng tình yêu rộng lớn hơn dành cho đất nước. Khi mỗi người biết yêu quê hương của mình, tình yêu ấy sẽ hòa lại thành tình yêu Tổ quốc thiêng liêng và bền vững.

Câu 1. Ngôi kể được sử dụng trong văn bản: Ngôi thứ ba (người kể gọi nhân vật bằng tên như Lê, Sơn). Câu 2. Quê hương của Lê gắn với sông Hồng (đất phù sa sông Hồng). Quê hương của Sơn gắn với sông Lam. Câu 3. Biện pháp tu từ so sánh: “Đại đội pháo của họ như một gốc cây đa lớn, nhựa cây từ đấy tỏa ra thành hai nhánh.” Tác dụng: Làm hình ảnh đại đội pháo trở nên cụ thể, sinh động, dễ hình dung. Gợi sự lớn mạnh, vững chắc và gắn bó như cây đa cổ thụ. Thể hiện sự lan tỏa, phát triển thành nhiều hướng chiến đấu của đơn vị. Câu 4. Chi tiết: “Họ chia nhau tấm giắt nằm, vài tấm áo sặc mùi thuốc đạn và chia nhau bầu trời Tổ quốc trên đầu” có vai trò: Thể hiện tình đồng đội gắn bó, sẻ chia trong gian khổ của người lính. Cho thấy tinh thần lạc quan, đoàn kết trong chiến tranh. Làm nổi bật tình yêu Tổ quốc và lý tưởng chiến đấu của họ. Câu 5. Sự tương đồng về ý nghĩa: Cả hai ngữ liệu đều thể hiện tình cảm gắn bó sâu nặng của con người với những vùng đất mình từng sống và đi qua. Khi rời xa, những vùng đất ấy trở thành một phần ký ức và tâm hồn con người.

Câu 1 (khoảng 150 chữ) Sau khi đọc bài thơ “Bài học đầu cho con” của tác giả Đỗ Trung Quân, em cảm thấy rất xúc động. Bài thơ gợi lên hình ảnh quê hương thân thương với những điều bình dị như chùm khế ngọt, con diều biếc hay dòng sông nhỏ. Qua những hình ảnh giản dị ấy, tác giả đã nhắc nhở mỗi người phải luôn ghi nhớ và yêu quý quê hương của mình. Đặc biệt, hai câu thơ “Quê hương mỗi người chỉ một / Như là chỉ một mẹ thôi” khiến em hiểu rằng quê hương có ý nghĩa vô cùng thiêng liêng. Mỗi người chỉ có một quê hương giống như chỉ có một người mẹ. Vì vậy, chúng ta cần trân trọng, yêu thương và luôn nhớ về nơi mình đã sinh ra và lớn lên. Bài thơ giúp em thêm yêu quê hương và tự nhắc bản thân phải sống tốt hơn để xứng đáng với quê hương của mình. Câu 2 (khoảng 400 chữ) Quê hương là nơi mỗi con người sinh ra, lớn lên và gắn bó với nhiều kỉ niệm đẹp của tuổi thơ. Trong cuộc đời của mỗi người, quê hương luôn có một ý nghĩa vô cùng quan trọng và thiêng liêng. Trước hết, quê hương là nơi nuôi dưỡng và hình thành nhân cách của mỗi con người. Đó là nơi ta cất tiếng khóc chào đời, nơi có gia đình, bạn bè và những người thân yêu. Những hình ảnh quen thuộc như con đường làng, dòng sông, cánh đồng hay mái nhà nhỏ đều trở thành một phần kí ức không thể quên trong cuộc đời mỗi người. Chính những điều bình dị ấy đã góp phần nuôi dưỡng tâm hồn và tình cảm của chúng ta. Không chỉ vậy, quê hương còn là cội nguồn của tình yêu thương và sự gắn bó. Dù sau này mỗi người có đi xa đến đâu, sống ở nơi nào thì quê hương vẫn luôn là nơi để nhớ về. Quê hương giống như vòng tay ấm áp luôn chờ đón ta trở về sau những khó khăn, vất vả của cuộc sống. Vì thế, tình yêu quê hương luôn là một tình cảm sâu sắc và bền chặt trong trái tim mỗi con người. Bên cạnh đó, quê hương cũng nhắc nhở chúng ta phải có trách nhiệm với nơi mình sinh ra. Mỗi người cần cố gắng học tập, rèn luyện và sống tốt để góp phần xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp hơn. Tình yêu quê hương không chỉ thể hiện bằng lời nói mà còn bằng những hành động thiết thực trong cuộc sống. Như vậy, quê hương có ý nghĩa vô cùng thiêng liêng đối với mỗi con người. Dù thời gian có trôi qua, tình yêu và nỗi nhớ về quê hương vẫn luôn tồn tại trong trái tim của mỗi chúng ta.

Câu 1. Bài thơ được viết theo thể thơ lục bát. Câu 2. Bài thơ là lời của người cha (hoặc người lớn) nói với đứa con về quê hương. Câu 3. Bốn hình ảnh dùng để miêu tả quê hương có thể là: chùm khế ngọt, con diều biếc, con đò nhỏ, cầu tre nhỏ (hoặc hoa sen trắng). Nhận xét: Những hình ảnh này rất giản dị, gần gũi với làng quê Việt Nam, gợi lên vẻ đẹp bình yên và thân thương của quê hương. Câu 4. Biện pháp tu từ so sánh được sử dụng nhiều trong bài thơ giúp làm nổi bật vẻ đẹp của quê hương. Qua những so sánh ấy, quê hương hiện lên gần gũi, thân thuộc và giàu ý nghĩa, đồng thời thể hiện tình yêu quê hương sâu sắc của tác giả. Câu 5. Hai dòng thơ “Quê hương mỗi người chỉ một / Như là chỉ một mẹ thôi” cho thấy quê hương có ý nghĩa vô cùng thiêng liêng đối với mỗi con người. Mỗi người chỉ có một quê hương giống như chỉ có một người mẹ. Vì vậy, chúng ta cần yêu quý, trân trọng và luôn nhớ về quê hương của mình. Quê hương chính là nơi nuôi dưỡng ta lớn lên và lưu giữ nhiều kỉ niệm đẹp của tuổi thơ. 🌾

Câu 1. Bài thơ được viết theo thể thơ lục bát. Câu 2. Bài thơ là lời của người cha (hoặc người lớn) nói với đứa con về quê hương. Câu 3. Bốn hình ảnh dùng để miêu tả quê hương có thể là: chùm khế ngọt, con diều biếc, con đò nhỏ, cầu tre nhỏ (hoặc hoa sen trắng). Nhận xét: Những hình ảnh này rất giản dị, gần gũi với làng quê Việt Nam, gợi lên vẻ đẹp bình yên và thân thương của quê hương. Câu 4. Biện pháp tu từ so sánh được sử dụng nhiều trong bài thơ giúp làm nổi bật vẻ đẹp của quê hương. Qua những so sánh ấy, quê hương hiện lên gần gũi, thân thuộc và giàu ý nghĩa, đồng thời thể hiện tình yêu quê hương sâu sắc của tác giả. Câu 5. Hai dòng thơ “Quê hương mỗi người chỉ một / Như là chỉ một mẹ thôi” cho thấy quê hương có ý nghĩa vô cùng thiêng liêng đối với mỗi con người. Mỗi người chỉ có một quê hương giống như chỉ có một người mẹ. Vì vậy, chúng ta cần yêu quý, trân trọng và luôn nhớ về quê hương của mình. Quê hương chính là nơi nuôi dưỡng ta lớn lên và lưu giữ nhiều kỉ niệm đẹp của tuổi thơ.