Trong lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta, có biết bao anh hùng đã ngã xuống để giữ gìn bờ cõi. Nhưng có lẽ, hình ảnh hai người phụ nữ anh dũng cưỡi voi, phất cờ khởi nghĩa tại cửa sông Hát đã trở thành biểu tượng bất tử về lòng yêu nước. Đó chính là Trưng Trắc và Trưng Nhị. Chuyện kể rằng, vào những năm đầu công nguyên, nước ta bị nhà Hán đô hộ. Thái thú Tô Định là kẻ tham lam, độc ác, đã khiến nhân dân ta rơi vào cảnh lầm than. Không chịu khuất phục, Trưng Trắc – một phụ nữ thông minh, quyết đoán – cùng chồng là Thi Sách đã bí mật tập hợp hào kiệt để nổi dậy. Tuy nhiên, Tô Định đã hèn hạ sát hại Thi Sách hòng dập tắt ý chí của nhân dân. Thế nhưng, nợ nước chồng lên thù nhà không làm người phụ nữ ấy gục ngã. Trưng Trắc cùng em gái là Trưng Nhị quyết định phất cờ khởi nghĩa tại cửa sông Hát (nay thuộc Phúc Thọ, Hà Nội). Sự việc diễn ra vô cùng hào hùng. Trước khi xuất quân, Trưng Trắc đã đọc lời thề thiêng liêng:
"Một xin rửa sạch quốc thù
Hai xin đem lại nghiệp xưa họ Hùng
Ba kẻo oan ức lòng chồng
Bốn xin vẻn vẹn sở công lênh này." Tiếng trống đồng vang rền khắp một dải non sông. Hai Bà mặc áo giáp vàng, đầu đội khăn sô, cưỡi trên mình đôi voi chiến dũng mãnh, oai phong lẫm liệt dẫn đầu đoàn quân. Khí thế của nghĩa quân mạnh mẽ như nước vỡ bờ, khiến quân giặc khiếp vía kinh hồn. Tô Định sợ hãi đến mức phải cắt tóc, cạo râu, trà trộn vào đám tàn quân để tháo chạy về nước. Chỉ trong một thời gian ngắn, nghĩa quân đã thu hồi được sáu mươi lăm thành trì, quét sạch bóng quân thù ra khỏi bờ cõi. Bà Trưng Trắc được suy tôn làm vua, đóng đô ở Mê Linh. Sự kiện Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa không chỉ là minh chứng cho sức mạnh của phụ nữ Việt Nam mà còn khẳng định khát khao độc lập tự chủ cháy bỏng của dân tộc ta. Dù nghìn năm trôi qua, hình ảnh hai vị nữ vương trên lưng voi vẫn mãi là niềm tự hào của mỗi người con đất Việt.