toàn tra mạng
Việc sử dụng các thiết bị có bộ xử lý thông tin (như máy tính, điện thoại thông minh, máy tính bảng) đã trở nên vô cùng phổ biến và gần như không thể thiếu trong học tập và đời sống hiện đại. Chúng mang lại rất nhiều lợi ích nhưng cũng tiềm ẩn không ít rủi ro.
Một trong những lợi ích lớn nhất của việc sử dụng thiết bị có bộ xử lý thông tin là khả năng tiếp cận thông tin và tri thức gần như vô hạn. Chỉ với một vài cú nhấp chuột hoặc chạm màn hình, chúng ta có thể:
Nhờ lợi ích này, việc học tập trở nên linh hoạt, cá nhân hóa và hiệu quả hơn rất nhiều, đồng thời giúp mỗi cá nhân mở rộng kiến thức, nâng cao năng lực trong cuộc sống hàng ngày.
Tuy nhiên, song hành với lợi ích là những rủi ro đáng kể, đặc biệt là nguy cơ nghiện thiết bị và những ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe.
Để tối đa hóa lợi ích và giảm thiểu rủi ro, điều quan trọng là chúng ta phải sử dụng các thiết bị này một cách có ý thức và điều độ.
Trong một căn phòng có gắn điều hòa thông minh, bộ xử lí thông tin được lập trình để:
| Tiêu chí | Thiết bị điện tử thông thường | Thiết bị thông minh có gắn bộ xử lí thông tin |
|---|---|---|
Khả năng xử lí thông tin | Không có hoặc rất hạn chế, chỉ hoạt động theo cơ chế cơ bản | Có bộ xử lí , xử lí thông tin và đưa ra hành động phù hợp |
Tính tự động | Phụ thuộc vào điều khiển trực tiếp của con người | Có thể tự hoạt động nhờ các chương trình đã được lập trình sẵn |
Mức độ thông minh | Thấp – chỉ làm được những việc đơn giản | Cao – có thể phản ứng theo môi trường và tình huống |
Khả năng tiết kiệm năng lượng | Không tối ưu | Tối ưu tốt hơn nhờ tự điều chỉnh theo điều kiện sử dụng |
Đồng hồ thông minh hoặc điện thoại thông minh có khả năng tự điều chỉnh độ sáng màn hình là nhờ:
Ngược lại, khi ở nơi có ánh sáng mạnh (ngoài trời), bộ xử lí sẽ tăng độ sáng màn hình để người dùng nhìn rõ hơn.
Thiết bị có gắn bộ xử lí thông tin đóng vai trò rất quan trọng, giúp:
Ta có \(B H \bot \&\text{nbsp}; A C\) nên \(\Delta A B H\) vuông tại \(H\).
Mà \(\hat{B A H} = 4 5^{\circ}\) nên \(\hat{A B H^{'}} \&\text{nbsp}; = 4 5^{\circ}\).
Mặt khác \(\hat{A B D} \&\text{nbsp}; = \hat{A C D}\) (góc nội tiếp cùng chắn cung \(A D\)) nên \(\hat{A C D} \&\text{nbsp}; = 4 5^{\circ}\). (1)
\(C K \&\text{nbsp}; \bot \&\text{nbsp}; A B\) nên \(\Delta A C K\) vuông tại \(K\).
Mà \(\hat{C A K} \&\text{nbsp}; = 4 5^{\circ}\) nên \(\hat{A C K} \&\text{nbsp}; = 4 5^{\circ}\). (2)
Từ (1) và (2) ta có \(\hat{D C E} \&\text{nbsp}; = 9 0^{\circ}\) nên \(D E\) là đường kính.
Vậy \(D\), \(O\), \(E\) thẳng hàng.
Vẽ đường kính \(A D\) của đường tròn \(\left(\right. O \left.\right)\), suy ra \(\hat{A C D} = 9 0^{\circ}\) (góc nội tiếp chắn nửa đường tròn).
Xét \(\Delta H B A\) và \(\Delta C D A\) có:
\(\hat{A H B} = \hat{A C D} = 9 0^{\circ}\);
\(\hat{H B A} = \hat{C D A}\) (góc nội tiếp cùng chắn AC⌢AC⌢);
Do đó \(\Delta H B A \sim \Delta C D A\)
Suy ra \(\frac{A H}{A C} = \frac{A B}{A D}\) nên \(A B . A C = A D . A H\).
Mà \(A D = 2 R\).
Do đó \(A B . A C = 2 R . A H\).
Ta thấy \(\hat{A C E} = 9 0^{\circ}\) (góc nội tiếp chắn nửa đường tròn).
Từ đó \(\hat{O A C} + \hat{A E C} = 9 0^{\circ}\) (1).
Theo giả thiết, ta có:
\(\hat{B A H} + \hat{A B C} = 9 0^{\circ}\) (2).
Mà \(\hat{A E C} = \hat{A B C}\) (cùng chắn AC⌢AC⌢) (3).
Từ (1),(2) và (3) suy ra \(\hat{B A H} = \hat{O A C}\) (đpcm).